CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TỶ LỆ NHIỄM VÀ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA CÁC CHỦNG VI KHUẨN GÂY BỆNH TRÊN BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN HUYẾT TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRÀ VINH
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Nhiễm khuẩn huyết là một cấp cứu thường gặp tại khoa hồi sức, có nguy cơ tử vong cao. Cấy máu dương tính và tình trạng đề kháng kháng sinh ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị. Nghiên cứu các yếu tố liên quan giúp bác sĩ nhận diện sớm nguy cơ và lựa chọn kháng sinh hợp lý.
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhiễm và đề kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn gây bệnh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết tại Khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh.
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu – cắt ngang trên 129 bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết từ 05/2024 đến 05/2025 tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh.
Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cấy máu dương tính – đề kháng kháng sinh (ĐKKS) có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với giới tính (nữ cao hơn nam, PR = 1,66; p = 0,030), thời gian nằm viện và thời gian điều trị tại Khoa HSTC (nằm viện > 6 ngày và điều trị tại Khoa HSTC > 6 ngày làm tăng nguy cơ cấy máu dương tính – ĐKKS hơn 5 lần; p < 0,05), cũng như thời gian điều trị kháng sinh kéo dài (7–30 ngày, PR = 4,27; p < 0,05). Ngoài ra, nhóm bệnh nhân không xác định được đường vào có nguy cơ cấy máu dương tính – ĐKKS cao gấp đôi so với nhóm đường tiêu hóa – gan mật (PR = 2,03; p = 0,023). Nghiên cứu không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ cấy máu dương tính – ĐKKS với tuổi, nghề nghiệp, khu vực cư trú, tiền sử sử dụng kháng sinh, bệnh nền, đường vào khác hoặc kết quả điều trị (p > 0,05).
Kết luận: Tỷ lệ cấy máu dương tính – đề kháng kháng sinh có xu hướng tăng cao ở nhóm bệnh nhân > 60 tuổi (40,21%), phản ánh gánh nặng nhiễm khuẩn huyết tại khoa hồi sức. Vì thế cần tăng cường chỉ định cấy máu và KSĐ trước khi sử dụng KS phổ rộng, đặc biệt ở BN nghi ngờ NKH, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và giảm nguy cơ kháng thuốc. Bên cạnh đó, việc xây dựng và cập nhật định kỳ bảng mức độ nhạy cảm/kháng thuốc của vi khuẩn (Antibiogram) sẽ hỗ trợ lựa chọn kháng sinh ban đầu hợp lý. Đồng thời, cần tăng cường kiểm soát NKBV và nâng cao ý thức thực hành vô khuẩn trong các thủ thuật xâm lấn như đặt catheter, nội khí quản, sonde tiểu,...
Từ khóa
Nhiễm khuẩn huyết, cấy máu dương tính, đề kháng kháng sinh, yếu tố liên quan
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Bianca Pari and et al (2023), “Insight on Infections in Diabetic Setting”, Biomedicines, vol. 11, no. 3, pp. 971.
3. Elisa Costantini and et al (2021), “Type 2 diabetes mellitus and sepsis: state of the art, certainties and missing evidence”, Acta Diabetol, vol. 58, no. 9, pp. 1139 – 1151.
4. June-sung Kim and et al (2021), “Characteristics and clinical outcomes of culture-negative and culture-positive septic shock: a single-center retrospective cohort study”, Crit Care, vol. 25, no. 1, pp. 11.
5. Mervyn Singer and et al (2016), “The third international consensus definitions for sepsis and septic shock (sepsis-3)”, Jama, vol. 315, no. 8, pp. 801 – 810.
6. Pawan K Goyal and et al (2024), “Comparison of Clinical Characteristics and Biomarkers in Culture-Positive and Culture-Negative Sepsis Patients”, Cureus, vol. 16, no. 4, pp. e58682.
7. WHO (2024), Guidelines on the Clinical Management of Sepsis”, World Hearth Organization.
8. Yuting Li and et al (2021), “Comparison of culture-negative and culture-positive sepsis or septic shock: a systematic review and meta-analysis”, Crit Care, vol. 25, no. 1, pp. 167.