ĐÁNH GIÁ VÁCH NGĂN TRONG GÃY XƯƠNG CHÍNH MŨI: ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH HỌC VÀ XỬ TRÍ BAN ĐẦU TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

Phạm Đình Nguyên1, , Nguyễn Thị Kiều Thơ2,3, Huỳnh Chí Thành4, Nguyễn Đình Chương2,3
1 Bệnh viện Nhi Đồng 1
2 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
3 Bệnh viện Nhân Dân Gia Định
4 Bệnh viện Thanh Vũ Bạc Liêu

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Bất thường vách ngăn trong bối cảnh gãy xương chính mũi (GXCM) có thể bị bỏ sót do phù nề, máu đông và triệu chứng cấp tính. Do thiếu dữ liệu trước chấn thương, cần diễn giải thận trọng vì vẹo vách ngăn có thể đã tồn tại trước đó.


Mục tiêu: Mô tả tỉ lệ, đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và xử trí ban đầu của bất thường vách ngăn ghi nhận trong bối cảnh GXCM; đồng thời phân tích một số biểu hiện gợi ý cần đánh giá chủ động vách ngăn.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, hồi cứu hồ sơ bệnh án trên 30 bệnh nhân GXCM từ 18 tuổi trở lên điều trị tại Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, giai đoạn 11/2022-07/2023. Bệnh nhân được chia thành nhóm VN+ (n=9) và VN- (n=21). Biến định tính được so sánh bằng kiểm định Fisher’s exact test hai phía.


Kết quả: Bất thường vách ngăn được ghi nhận ở 9/30 trường hợp (30%), toàn bộ là vẹo vách ngăn; không ghi nhận gãy/sụp vách ngăn hoàn toàn hoặc tụ máu vách ngăn. Nhóm VN+ có tỉ lệ nghẹt mũi và sụp tháp mũi chung cao hơn nhóm VN- (đều 77,8% so với 28,6%; p=0,020). Nội soi mũi xoang và CT Scan hàm mặt ghi nhận bất thường vách ngăn ở toàn bộ nhóm VN+, trong khi X-quang thường quy chỉ gợi ý 2/9 trường hợp. Tất cả bệnh nhân VN+ được nắn chỉnh vách ngăn bằng kẹp Asch trước NXCM kín trong cùng cuộc phẫu thuật.


Kết luận: Bất thường vách ngăn được ghi nhận trong bối cảnh GXCM ở 30% bệnh nhân và liên quan với tỉ lệ nghẹt mũi, sụp tháp mũi cao hơn. Kết quả gợi ý bệnh nhân GXCM có nghẹt mũi hoặc sụp tháp mũi cần được đánh giá vách ngăn chủ động bằng thăm khám nội mũi, nội soi mũi xoang và CT Scan hàm mặt khi phù hợp.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Huỳnh Thị Vân, Nguyễn Thị Ngọc Dung. Phân loại tổn thương và đánh giá kết quả điều trị chấn thương gãy xương chính mũi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương. Luận văn Chuyên khoa cấp II. Thành phố Hồ Chí Minh: Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh; 2014.
2. Phùng Minh Hoàng Anh, Trần Minh Trường. Khảo sát gãy xương chính mũi và tổn thương các vùng lân cận trong chấn thương tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Luận văn Thạc sĩ Y học. Thành phố Hồ Chí Minh: Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh; 2017.
3. Chou C, Chen CW, Wu YC, Chen KK, Lee SS. Refinement treatment of nasal bone fracture: a 6-year study of 329 patients. Asian J Surg. 2015;38(4):191-198. doi:10.1016/j.asjsur.2014.09.002.
4. Gilman GS, Rivera-Serrano CM. Nasal fractures. In: Johnson JT, Rosen CA, editors. Bailey’s Head and Neck Surgery - Otolaryngology. 5th ed. Philadelphia: Wolters Kluwer; 2014. p. 1241-1254.
5. Hwang K, Jung JS, Kim H. Diagnostic performance of plain film, ultrasonography, and computed tomography in nasal bone fractures: a systematic review. Plast Surg (Oakv). 2018;26(4):286-292. doi:10.1177/2292550317749535.
6. Kim JH, Lee JW, Park CH. Cosmetic rhinoseptoplasty in acute nasal bone fracture. Otolaryngol Head Neck Surg. 2013;149(2):212-218. doi:10.1177/0194599813487493.
7. Moshfeghi M, Abedian B, Ghazizadeh Ahsaie M, Tajdini F. Prevalence of nasal septum deviation using cone-beam computed tomography: a cross-sectional study. Contemp Clin Dent. 2020;11(3):223-228. doi:10.4103/ccd.ccd_110_19.
8. Rohrich RJ, Adams WP Jr. Nasal fracture management: minimizing secondary nasal deformities. Plast Reconstr Surg. 2000;106(2):266-273. doi:10.1097/00006534-200008000-00003.