CẤP CỨU THÀNH CÔNG NGỪNG TUẦN HOÀN DO TẮC MẠCH ỐI SAU PHẪU THUẬT LẤY THAI: BÁO CÁO CA BỆNH LÂM SÀNG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Tắc mạch ối là một biến chứng sản khoa hiếm gặp nhưng đặc biệt nghiêm trọng, có thể nhanh chóng dẫn đến suy sụp tuần hoàn, rối loạn đông máu nặng và ngừng tuần hoàn ở sản phụ. Mặc dù tỷ lệ mắc thấp, tắc mạch ối vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ trên toàn thế giới. Chẩn đoán tắc mạch ối hiện nay chủ yếu dựa vào biểu hiện lâm sàng và thường được xác lập sau khi loại trừ các nguyên nhân gây ngừng tuần hoàn khác. Vì vậy, việc nhận biết sớm và xử trí kịp thời với sự phối hợp đa chuyên khoa đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện tiên lượng cho người bệnh.
Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi báo cáo một trường hợp sản phụ ngừng tuần hoàn nghi do tắc mạch ối sau mổ lấy thai đã được cấp cứu thành công tại khoa Gây mê Hồi sức, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội.
Trường hợp lâm sàng: Sản phụ 31 tuổi, PARA 2002, thai 38 tuần 6 ngày, được chỉ định mổ lấy thai do có chuyển dạ và tiền sử mổ lấy thai cũ. Phương pháp vô cảm được sử dụng là gây tê tủy sống – ngoài màng cứng phối hợp. Sau gây tê tủy sống, huyết động của sản phụ ổn định. Tuy nhiên, 1 phút sau khi lấy rau thai, sản phụ đột ngột xuất hiện ngừng tuần hoàn. Hồi sức tim phổi nâng cao được tiến hành ngay theo phác đồ, và tim đập trở lại. Sau đó, sản phụ xuất hiện rối loạn đông máu rất nặng với tình trạng đông máu nội mạch rải rác, gợi ý nguyên nhân tắc mạch ối. Sản phụ được hồi sức tích cực bao gồm truyền các chế phẩm máu theo hướng dẫn ROTEM, an thần, thở máy, đồng thời phẫu thuật cắt tử cung bán phần. Tình trạng bệnh nhân dần cải thiện, đến ngày thứ 3 sau mổ đã rút được ống nội khí quản và ra viện ngày thứ 10 với tri giác được phục hồi hoàn toàn.
Kết luận: Việc phát hiện sớm tắc mạch ối cùng với xử trí kịp thời và hồi sức tích cực đa chuyên khoa có thể giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sống sót và giảm các biến chứng lâu dài cho sản phụ.
Từ khóa
Tắc mạch ối, mổ lấy thai, ngừng tuần hoàn ở sản phụ, cấp cứu sản khoa
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Tamura N, Farhana M, Oda T, Itoh H, Kanayama N. Amniotic fluid embolism: Pathophysiology from the perspective of pathology. J Obstet Gynaecol Res. 2017;43(4):627-632. doi:10.1111/jog.13284
3. Lim C, Tsung-Che Hsieh C, Lai SY, Chu YT, Chen M, Wu HH. Amniotic fluid embolism: A case report of good outcome with timely intensive multidisciplinary team involvement. Taiwan J Obstet Gynecol. 2023;62(6):921-924. doi:10.1016/j.tjog.2023.05.015
4. Luis D P, Geogre S, Gary D V H, Steven L C. Amniotic fluid embolism: diagnosis and management. Am J Obstet Gynecol. 2016;215(2). doi:10.1016/j.ajog.2016.03.012
5. Fitzpatrick K, Tuffnell D, Kurinczuk J, Knight M. Incidence, risk factors, management and outcomes of amniotic-fluid embolism: a population-based cohort and nested case–control study. BJOG Int J Obstet Gynaecol. 2016;123(1):100-109. doi:10.1111/1471-0528.13300
6. Steven L Clark, Roberto Romero, Gary Dildy, et al. Proposed diagnostic criteria for the case definition of amniotic fluid embolism in research studies. Am J Obstet Gynecol. 2016;215(4). doi:10.1016/j.ajog.2016.06.037
7. Lipman S, Cohen S, Einav S, et al. The Society for Obstetric Anesthesia and Perinatology Consensus Statement on the Management of Cardiac Arrest in Pregnancy. Anesth Analg. 2014;118(5):1003. doi:10.1213/ANE.0000000000000171
8. Kinishi Y, Ootaki C, Iritakenishi T, Fujino Y. A case of amniotic fluid embolism successfully treated by multidisciplinary treatment. JA Clin Rep. 2019;5(1):79. doi:10.1186/s40981-019-0296-0