GÁNH NẶNG ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT VÀ ĐẶC ĐIỂM TIẾN TRIỂN CỦA U NHÚ THANH QUẢN

Nguyễn Thành Tuấn1,
1 Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: U nhú thanh quản (recurrent respiratory papillomatosis – RRP) là bệnh lý lành tính của đường hô hấp do nhiễm human papillomavirus (HPV), đặc trưng bởi sự xuất hiện của các khối u nhú trên niêm mạc thanh quản và xu hướng tái phát nhiều lần. Bệnh thường gây khàn tiếng kéo dài, khó thở và có thể lan rộng xuống đường hô hấp dưới. Mặc dù bản chất là lành tính, RRP thường đòi hỏi can thiệp phẫu thuật lặp lại nhiều lần nhằm duy trì đường thở và cải thiện chức năng phát âm. Điều này tạo ra gánh nặng đáng kể cho bệnh nhân, gia đình và hệ thống y tế. Tuy nhiên, dữ liệu về đặc điểm tiến triển và gánh nặng điều trị của bệnh tại Việt Nam còn hạn chế.


Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, diễn tiến và đánh giá gánh nặng điều trị phẫu thuật ở bệnh nhân u nhú thanh quản tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP. Hồ Chí Minh.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca bệnh được thực hiện trên các bệnh nhân được chẩn đoán xác định u nhú thanh quản bằng nội soi và mô bệnh học tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP. Hồ Chí Minh. Các biến số nghiên cứu bao gồm tuổi, giới, triệu chứng lâm sàng, vị trí tổn thương, mức độ lan rộng của sang thương và số lần phẫu thuật trong quá trình theo dõi. Dữ liệu được xử lý bằng các phương pháp thống kê mô tả.


Kết quả: Khàn tiếng là triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất ở bệnh nhân u nhú thanh quản. Tổn thương thường gặp nhất ở tầng thanh môn, đặc biệt tại bờ tự do dây thanh. Một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân cần phẫu thuật nhiều lần trong quá trình theo dõi do tính chất tái phát của bệnh. Các trường hợp có tổn thương lan rộng ở nhiều vị trí của thanh quản có xu hướng cần nhiều lần phẫu thuật hơn so với các trường hợp tổn thương khu trú.


Kết luận: U nhú thanh quản là bệnh lý có xu hướng tái phát kéo dài và gây gánh nặng điều trị đáng kể do phải phẫu thuật lặp lại nhiều lần. Việc nhận diện sớm mức độ lan rộng của bệnh và theo dõi lâu dài có vai trò quan trọng trong quản lý bệnh nhân và giảm thiểu gánh nặng điều trị.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Derkay, C. S. & Wiatrak, B. J. T. L. Recurrent respiratory papillomatosis: a review. 118, 1236-1247 (2008).
2. ARMSTRONG, L. R., DERKAY, C. S. & REEVES, W. C. J. S. o. A. Initial Results from the National Registry for Juvenile-Onset Recurrent Respiratory Papillomatosis. 44, 92-93 (2000).
3. Ivancic, R., Iqbal, H., deSilva, B., Pan, Q. & Matrka, L. J. L. i. o. Current and future management of recurrent respiratory papillomatosis. 3, 22-34 (2018).
4. Mounts, P., Shah, K. V. & Kashima, H. J. P. o. t. N. A. o. S. Viral etiology of juvenile-and adult-onset squamous papilloma of the larynx. 79, 5425-5429 (1982).
5. Gissmann, L. et al. Human papillomavirus types 6 and 11 DNA sequences in genital and laryngeal papillomas and in some cervical cancers. 80, 560-563 (1983).
6. Doorbar, J. et al. The biology and life-cycle of human papillomaviruses. 30, F55-F70 (2012).
7. Reeves, W. C. et al. National registry for juvenile-onset recurrent respiratory papillomatosis. 129, 976-982 (2003).
8. Seedat, R. Y. & Schall, R. Age of diagnosis, incidence and prevalence of recurrent respiratory papillomatosis-A South African perspective. Clinical otolaryngology : official journal of ENT-UK; official journal of Netherlands Society for Oto-Rhino-Laryngology & Cervico-Facial Surgery 43, 533-537, doi:10.1111/coa.13016 (2018).
9. Best, S. R. et al. Safety and dosing of bevacizumab (avastin) for the treatment of recurrent respiratory papillomatosis. The Annals of otology, rhinology, and laryngology 121, 587-593, doi:10.1177/000348941212100905 (2012).
10. Dikkers, F. G., Tjon Pian Gi, R. E. A. & San Giorgi, M. R. M. in Infections of the Ears, Nose, Throat, and Sinuses (eds Marlene L. Durand & Daniel G. Deschler) 321-333 (Springer Nature Switzerland, 2024).