TỶ LỆ TỬ VONG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRONG SUY HÔ HẤP Ở TRẺ SƠ SINH NON THÁNG TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong giai đoạn sơ sinh. Hơn 90% trẻ được nhập vào khoa Hồi sức sơ sinh đều biểu hiện suy hô hấp nặng, đòi hỏi phải can thiệp hỗ trợ hô hấp tích cực [1]. Trên thế giới và tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, vẫn còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu và cụ thể về vấn đề này tại trung tâm của chúng tôi. Vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định các yếu tố liên quan đến tử vong do suy hô hấp ở nhóm trẻ sơ sinh non tháng nhập khoa Hồi sức sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1.
Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến tử vong do suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng tại khoa Hồi sức sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang từ 01/01/2025 đến 30/06/2025 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1.
Kết quả: Trong thời gian nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận 145 trường hợp trẻ sơ sinh non tháng bị suy hô hấp. Trung vị tuổi thai là 34,0 tuần (khoảng tứ phân vị: 29,4 – 35,0 tuần), trung vị cân nặng lúc sinh là 1.900 g (1.300 – 2.300 g) và tỷ lệ trẻ cực non chiếm 12,4%. Các nguyên nhân suy hô hấp thường gặp nhất bao gồm: suy hô hấp do bệnh lý ngoại khoa (36,6%), hội chứng suy hô hấp cấp tính (34,5%) và viêm phổi (24,1%). Các phương pháp điều trị chủ yếu được áp dụng là: thở máy xâm lấn (74,5%), thở máy không xâm lấn (73,1%), liệu pháp thay thế surfactant (34,5%) và sử dụng caffeine (35,2%). Biến chứng của suy hô hấp xảy ra ở 31,0% trẻ, trong đó loạn sản phế quản phổi chiếm 9,0%. Kết quả điều trị ghi nhận: trẻ xuất viện chiếm 87,0%, tử vong chiếm 13,0%. Các yếu tố liên quan độc lập đến tỷ lệ tử vong bao gồm: tuổi thai < 28 tuần (OR = 30,95; 95% CI: 3,12 – 306,86; p = 0,003); sử dụng steroid trước sinh (OR = 0,022; 95% CI: 0,002 – 0,199; p = 0,001); có chỉ định bơm surfactant (OR = 0,045; 95% CI: 0,003 – 0,644; p = 0,022); bơm surfactant từ 2 lần trở lên (OR = 19,45; 95% CI: 1,22 – 308,33; p = 0,035); và toan chuyển hóa lúc nhập viện (OR = 6,72; 95% CI: 1,34 – 33,56; p = 0,020).
Kết luận: Nguyên nhân chính gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh non tháng là suy hô hấp do bệnh lý ngoại khoa (36,6%) và hội chứng suy hô hấp cấp tính (34,5%), trong đó thở máy xâm lấn được sử dụng ở 74,5% trường hợp. Tỷ lệ tử vong tổng thể là 13,0%. Các yếu tố liên quan đến tử vong bao gồm tuổi thai < 28 tuần, sử dụng steroid trước sinh, có chỉ định bơm surfactant, bơm surfactant ≥ 2 lần, toan chuyển hóa lúc nhập viện và thở máy xâm lấn. Việc xây dựng chiến lược quản lý thai kỳ hiệu quả, chẩn đoán sớm và điều trị phù hợp là rất cần thiết để giảm tỷ lệ tử vong ở nhóm trẻ này.
Từ khóa
Suy hô hấp, sơ sinh non tháng
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Arora Anshana. Levels and trends in child mortality. UNICEF DATA. March 12, 2024. Accessed September 3, 2024
3. Hiếu Nguyễn Phan Trọng. Đánh giá kết quả điều trị suy hô hấp sơ sinh và một số yếu tố liên quan. Tạp chí Y học Việt Nam, (2022),515(1).
4. Long Nguyễn Tâm. Suy hô hấp ở trẻ sinh non tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương: Kết quả điều trị và một số yếu tố liên quan. Tạp chí Y Dược Lâm sàng, (2021),108, 16(DB4).
5. Sweet DG, et al. European Consensus Guidelines on the Management of Respiratory Distress Syndrome: 2022 Update. Neonatology, (2022), 120:3–23.
6. Tâm Phạm Thị Thanh, Nguyễn Thanh Nguyên. Tỉ lệ tử vong và chi phí điều trị trẻ sơ sinh non tháng nhẹ cân suy hô hấp tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Tạp chí Y học Việt Nam, (2017), 4(54–61).
7. Thượng Tăng Chí. Mô hình bệnh tật và tử vong tại khoa Săn sóc tăng cường sơ sinh, Bệnh viện Nhi Đồng 1. Y học Thực hành, (2009), 3(708):27–31.