ĐẶC ĐIỂM VI SINH VÀ CÁC YẾU TỐ TIÊN ĐOÁN VIÊM PHÚC MẠC Ở BỆNH NHÂN LỌC MÀNG BỤNG: NGHIÊN CỨU ĐOÀN HỆ HỒI CỨU TẠI MỘT TRUNG TÂM

Nguyễn Huỳnh Thanh Tuấn1, , Trịnh Thị Kim Chi2, Võ Thị Diễm Hà3, Nguyễn Bách2
1 Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
2 Bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh
3 Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Viêm phúc mạc là một biến chứng ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối lọc màng bụng. Việc hiểu rõ đặc điểm vi sinh và các yếu tố tiên đoán viêm phúc mạc có ý nghĩa quan trọng trong việc tối ưu hóa lựa chọn kháng sinh điều trị cũng như xây dựng các chiến lược dự phòng biến chứng này.


Mục tiêu: Mô tả đặc điểm vi sinh của các đợt viêm phúc mạc ở bệnh nhân lọc màng bụng và xác định các yếu tố dự đoán viêm phúc mạc ở bệnh nhân lọc màng bụng.


Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu được thực hiện trên các bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối lọc màng bụng tại Khoa Thận – Lọc máu, Bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, trong giai đoạn từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 08 năm 2025. Các thông tin về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng được thu thập từ hồ sơ bệnh án. Đặc điểm vi sinh được xác định dựa trên kết quả cấy dịch lọc màng bụng. Các yếu tố dự đoán viêm phúc mạc được đánh giá bằng ước tính nguy cơ tương đối, với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05.


Kết quả: Trong 190 bệnh nhân lọc màng bụng, có 74 bệnh nhân bị viêm phúc mạc với tổng cộng 137 đợt, tương ứng với tỷ lệ 0,32 đợt trên mỗi bệnh nhân-năm. Vi khuẩn gram âm là tác nhân gây bệnh thường gặp nhất (45,30%), tiếp theo là vi khuẩn gram dương (23,36%). Viêm phúc mạc cấy âm chiếm 28,50% số đợt, trong khi viêm phúc mạc do nấm lại hiếm gặp (0,70%). Nghiên cứu cũng xác định một số yếu tố có ý nghĩa tiên đoán viêm phúc mạc ở bệnh nhân lọc màng bụng, bao gồm: hạ kali máu (RR = 27,923), giảm albumin máu (RR = 4,337), viêm cầu thận (RR = 6,891) và đái tháo đường (RR = 2,55) (p < 0,05).


Kết luận: Vi khuẩn gram âm là tác nhân chủ yếu gây viêm phúc mạc ở bệnh nhân lọc màng bụng. Trong đó, Pseudomonas aeruginosa là tác nhân thường gặp nhất. Hạ kali máu, giảm albumin máu, viêm cầu thận và đái tháo đường là những yếu tố có giá trị tiên đoán viêm phúc mạc.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Cho Y, Johnson DW. Peritoneal dialysis-related peritonitis: towards improving evidence, practices, and outcomes. Am J Kidney Dis. Aug 2014;64(2):278-89. doi:10.1053/j.ajkd.2014.02.025
2. Li PK, Chow KM, Cho Y, et al. ISPD peritonitis guideline recommendations: 2022 update on prevention and treatment. Perit Dial Int. Mar 2022;42(2):110-153. doi:10.1177/08968608221080586.
3. Huynh Minh Tri, Nguyen Nhu Nghia. Nghiên cứu về tình hình và kết quả điều trị viêm phúc mạc ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối lọc màng bụng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang. Y dược học Cần Thơ. 2020;27:47-53.
4. Bach N, Chi TTK, Trung LC, et al. Prevalence, microbiology, and outcome of peritonitis in peritoneal dialysis patients in vietnam: a multicenter study. BMC Nephrol. Mar 11 2025;26(1):134. doi:10.1186/s12882-025-04061-y
5. Abraham G, Gupta A, Prasad KN, et al. Microbiology, clinical spectrum and outcome of peritonitis in patients undergoing peritoneal dialysis in India: Results from a multicentric, observational study. Indian J Med Microbiol. Oct-Dec 2017;35(4):491-498. doi:10.4103/ijmm.IJMM_17_392
6. Zeng Y, Jiang L, Lu Y, et al. Peritoneal dialysis-related peritonitis caused by gram-negative organisms: ten-years experience in a single center. Ren Fail. Dec 2021;43(1):993-1003. doi:10.1080/0886022X.2021.1939050
7. Gadola L, Poggi C, Dominguez P, Poggio MV, Lungo E, Cardozo C. Risk Factors And Prevention of Peritoneal Dialysis-Related Peritonitis. Perit Dial Int. Mar-Apr 2019;39(2):119-125. doi:10.3747/pdi.2017.00287
8. Nochaiwong S, Ruengorn C, Koyratkoson K, et al. A Clinical Risk Prediction Tool for Peritonitis-Associated Treatment Failure in Peritoneal Dialysis Patients. Sci Rep. Oct 4 2018;8(1):14797. doi:10.1038/s41598-018-33196-2