BIẾN CHỨNG NHIỄM KHUẨN SAU TÁN SỎI THẬN QUA DA ĐƯỜNG HẦM NHỎ: ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

Hoàng Văn Thiệp1,2, , Trần Ngọc Tuấn2
1 Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên
2 Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh có biến chứng nhiễm khuẩn sau tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả 29 người bệnh có biến chứng nhiễm khuẩn sau tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ tại Khoa Ngoại tiết niệu, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 1/2024 đến tháng 12/2025.


Kết quả: Tuổi trung bình của người bệnh là 58,6 tuổi. 17,2% mắc đái tháo đường; 41,3% cấy nước tiểu dương tính trước phẫu thuật. Kích thước sỏi trung bình là 43,8 mm; Guy’s Stone Score độ II chiếm tỷ lệ cao nhất (65,5%), sau đó là độ IV (17,2%) và độ III (13,8%); số lượng sỏi trung vị là 2 viên. Thời gian sử dụng kháng sinh trước phẫu thuật trung vị là 3 ngày. Trong các biến chứng nhiễm khuẩn, SIRS là hình thái thường gặp nhất (58,6%); sốt đơn thuần 31,0%; nhiễm khuẩn tiết niệu 3,4%; sốc nhiễm khuẩn 6,9% và không ghi nhận trường hợp tử vong. Nhiễm khuẩn thường xuất hiện sớm sau phẫu thuật với thời gian trung vị 1 ngày, biểu hiện chủ yếu là sốt (86,2%), nồng độ procalcitonin tăng ở tất cả các trường hợp được xét nghiệm. Thời gian hậu phẫu trung vị là 7 ngày.


Kết luận: Nhiễm khuẩn sau tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ chủ yếu ở mức độ nhẹ, với SIRS là hình thái thường gặp nhất. Các biến chứng thường xuất hiện trong ngày đầu sau phẫu thuật, với biểu hiện chủ yếu là sốt và tăng nồng độ procalcitonin máu. Tuổi cao, đái tháo đường, cấy nước tiểu dương tính, sỏi kích thước lớn và phức tạp có thể là yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn sau phẫu thuật.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Lojanapiwat, B. Infective Complication Following Percutaneous Nephrolithotomy. Urological Science. 2016;27, 8-12.
2. Kumar GM, et al. Postoperative infective complications following percutaneous nephrolithotomy. Urology Annals. 2021; 13:340-5, doi:10.4103/UA.UA_153_20.
3. Lan S, Liu B, Xie S, Yang C. Risk factors of systemic inflammatory response syndrome after minimally invasive percutaneous nephrolithotomy with a controlled irrigation pressure. BMC Urol. 2024;24(1):287. doi:10.1186/s12894-024-01680-9.
4. Falahatkar R, Falahatkar S, Khajavi Gaskarei MA, et al. The global, prevalence, and risk factors of postoperative fever after percutaneous nephrolithotomy: A systematic review and meta-analysis. Asian J Urol. 2024;11(2):253-260. doi:10.1016/j.ajur.2022.04.008.
5. Lê Đình Vũ và cộng sự. Kết quả tán sỏi qua da đường hầm nhỏ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa qua 300 trường hợp. Y học TP Hồ Chí Minh. 2019;22(3), 78 – 84.
6. Trần Hoài Nam và cộng sự. Kết quả tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm điều trị sỏi thận tại Bệnh viện 19-8, Bộ công an. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;533, doi:10.51298/vmj.v533i2.7960.
7. Le Quang Trung. et al. Evaluate the results of kidney stone treatment using mini-percutaneous nephrolithotomy in flank position. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2025;124-129, doi:10.58490/ctump.2025i9TA.3937.
8. Bozkurt IH, Aydogdu O, Yonguc T, et al. Predictive Value of Leukocytosis for Infectious Complications After Percutaneous Nephrolithotomy. Urology. 2015;86(1):25-29. doi:10.1016/j.urology.2015.04.026.