CẮT TOÀN BỘ TỤY TRÊN BỆNH NHÂN U HỖN HỢP THẦN KINH NỘI TIẾT - KHÔNG THẦN KINH NỘI TIẾT (MINEN): NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP VÀ BÀN LUẬN

Nguyễn Đình Phú1, , Bùi Trung Nghĩa2, Trịnh Hồng Sơn2, Hồ Đức Thưởng2
1 Bệnh viện Đại học Y Dược
2 Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Thông báo một trường hợp MINEN tụy hiếm gặp với tổ hợp SCNEC và PDAC kém biệt hóa, thảo luận về những thách thức trong chẩn đoán, lựa chọn phác đồ hóa trị và quyết định phẫu thuật, đồng thời góp thêm dữ liệu vào y văn còn rất nghèo nàn về thực thể bệnh học này.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả một trường hợp lâm sàng được chẩn đoán và điều trị MINEN tụy tại Khoa Ung Bướu và Xạ trị, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2023.


Kết quả: Bệnh nhân nam 56 tuổi, được sinh thiết trước mổ xác định SCNEC đầu và thân tụy, điều trị Etoposid-Cisplatin 6 chu kỳ nhưng bệnh tiến triển. Sau hội chẩn đa chuyên khoa, bệnh nhân được phẫu thuật cắt toàn bộ tụy kèm lách, thời gian mổ 8 giờ 51 phút, hậu phẫu thuận lợi, ra viện ngày thứ 13. Giải phẫu bệnh sau mổ xác định MINEN tụy gồm SCNEC 70% và PDAC kém biệt hóa 30%, di căn 20/24 hạch. Sau mổ điều trị mFOLFOX6 nhưng bệnh tiếp tục tiến triển; tổng thời gian sống sau phẫu thuật khoảng 3 tháng.


Bàn luận: Chẩn đoán MINEN trước mổ bị giới hạn bởi sai số lấy mẫu sinh thiết, thành phần PDAC 30% chỉ được xác định trên bệnh phẩm phẫu thuật. Cả hai phác đồ Etoposid-Cisplatin và mFOLFOX6 đều phù hợp khuyến cáo NCCN 2025 nhưng không kiểm soát được bệnh. Cuộc mổ thành công về kỹ thuật nhưng lợi ích sống thêm bị giới hạn, tất cả phản ánh sự cộng hưởng hung hãn của hai dòng tế bào ác tính bậc nhất.


Kết luận: Trường hợp này góp thêm dữ liệu vào y văn còn rất nghèo nàn về MINEN tụy, nhấn mạnh ba vấn đề: chẩn đoán đầy đủ gần như chỉ có được trên bệnh phẩm phẫu thuật; bệnh tiến triển do bản chất sinh học hung hãn, dù đã điều trị phác đồ phù hợp khuyến cáo; và mục tiêu thực tế của phẫu thuật cần được trao đổi đầy đủ với bệnh nhân trong khuôn khổ hội chẩn đa chuyên khoa.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Trịnh Hồng Sơn, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Thành Khiêm, và cs. Cắt tụy toàn bộ: chỉ định và điều trị rối loạn chuyển hóa sau mổ. Tạp chí Y học Thực hành. 2019;(1119):11.
2. WHO Classification of Tumours Editorial Board. Digestive System Tumours. 5th ed. Lyon: IARC Press; 2019.
3. Frizziero M, Wang X, Chakrabarty B, et al. Mixed Neuroendocrine Non-Neuroendocrine Neoplasms (MiNENs): A Systematic Review of a Controversial and Underestimated Diagnosis. J Clin Med. 2020;9(1):273.
4. Pavel M, Öberg K, Falconi M, et al. Gastroenteropancreatic neuroendocrine neoplasms: ESMO Clinical Practice Guidelines for diagnosis, treatment and follow-up. Ann Oncol. 2020;31(7):844–860.
5. National Comprehensive Cancer Network. NCCN Clinical Practice Guidelines in Oncology: Neuroendocrine and Adrenal Tumors. Version 3.2025. Available at: https://www.nccn.org. Accessed June 2025.
6. Capella C, La Rosa S, Uccella S, Billo P, Cornaggia M. Mixed endocrine-exocrine tumors of the gastrointestinal tract. Semin Diagn Pathol. 2000;17(2):91–103.
7. Angelico R, Siragusa L, Pathirannehalage Don CB, Sensi B, Billeci F, Vattermoli L, et al. Pancreatic Adeno-MiNEN, a Rare Newly Defined Entity with Challenging Diagnosis and Treatment: A Case Report with Systematic Literature Review and Pooled Analysis. J Clin Med. 2022;11(17):5021. doi: 10.3390/jcm11175021.
8. Sorbye H, Welin S, Langer SW, et al. Predicted outcome with platinum-based chemotherapy in poorly differentiated neuroendocrine carcinoma. Ann Oncol. 2013;24(1):152–160.