KẾT QUẢ SỚM ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT MÁU TỤ NGOÀI MÀNG CỨNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ

Nguyễn Tuấn Cảnh1,
1 Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm tổn thương và đánh giá kết quả sớm phẫu thuật điều trị máu tụ ngoài màng cứng tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 73 bệnh nhân được phẫu thuật điều trị máu tụ ngoài màng cứng cấp tính do chấn thương sọ não tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 04/2023 đến tháng 04/2024.


Kết quả: Tuổi trung bình là: 35,97 ± 14,9 tuổi (16 – 94 tuổi). Nam giới chiếm đa số với 82,2%, nguyên nhân chủ yếu là do tai nạn giao thông với 80,8%. Vị trí ổ máu tụ nhiều nhất ở thái thương với 37%. Tỷ lệ bệnh nhân phẫu thuật trong vòng 24h sau chấn thương chiếm 93,2%. Các bệnh nhân được lắp lại sọ ngay sau phẫu thuật chiếm 82,2%. Số bệnh nhân cải thiện điểm Glasgow Coma Scale (GCS) sau phẫu thuật chiếm 91,8%. Biến chứng sau phẫu thuật ghi nhận phù não và nhiễm trùng chiếm tỷ lệ lần lượt là 16,4% và 6,9%. Kết quả điều trị sớm ghi nhận 65,8% mức độ tốt và 6,8% mức độ khá.


Kết luận: Tổn thương MTNMC có vỡ xương sọ chiếm tỷ lệ cao, đa số có 1 ổ máu tụ, vị trí ổ máu tụ ở thùy thái dương chiếm đa số. Khối máu tụ đẩy lệch đường giữa 5 – 10 mm thường gặp nhất. Phẫu thuật điều trị MTNMC tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ cho kết quả sớm với đa số là tốt và khá. Phương pháp mở sọ lấy máu tụ, cầm máu, đặt lại xương sọ trong mổ là phương pháp thường được lựa chọn, đạt hiệu quả cao trong điều trị.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Dương Đại Hà, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Đình Hưng và cộng sự. (2025), “Kết quả điều trị phẫu thuật máu tụ ngoài màng cứng cấp tính do chấn thương sọ não tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn và các yếu tố tiên lượng”, Tạp chí Y học Việt Nam. 543, tr. 51 - 56.
2. Đoàn Văn Toàn, Bùi Huy Mạnh, Lê Phùng Thành (2022), “Đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và kết quả phẫu thuật máu tụ ngoài màng cứng hố sau tại Bệnh viện Việt Đức”, Tạp chí Y học Việt Nam. 519, tr. 3.
3. Kingkeo Sengkhamyong (2012), Nghiên cứu chẩn đoán và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật máu tụ ngoài màng cứng cấp tính trên lều do chấn thương, Học viện Quân Y, Hà Nội.
4. Nguyễn Hương Quỳnh, Nguyễn Văn Tuấn, Dương Đại Hà và cộng sự. (2021), “Đặc điểm lâm sàng rối loạn ý thức ở bệnh nhân chấn thương sọ não”, Tạp chí Y học Việt Nam. 507, tr. 152 - 154.
5. Nguyễn Thanh Thảo (2021), “Đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính tụ máu ngoài màng cứng cấp tính trong chấn thương sọ não”, Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y - Dược Huế. 11, tr. 91 - 95.
6. Trần Anh Đức, Nguyễn Hữu Khanh,Nguyễn Thành Bắc (2024), “Một số yếu tố liên quan tới kết quả phẫu thuật bệnh nhân máu tụ ngoài màng cứng cấp tính do chấn thương tại Bệnh viện Quân y 103”, Tạp chí Y Dược học Quân sự. 49(Số Đặc Biệt), tr. 432 - 440.
7. Vũ Minh Hải (2021), “Tỉ lệ, đặc điểm và thái độ xử trí chấn thương sọ não máu tụ ngoài màng cứng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình”, Tạp chí Y học Việt Nam. 503, tr. 257 - 260.
8. Jeong Y.H., J.W. Oh,S. Cho (2016), “Clinical Outcome of Acute Epidural Hematoma in Korea: Preliminary Report of 285 Cases Registered in the Korean Trauma Data Bank System “, Korean J Neurotrauma. 12, tr. 47 - 54.