XÁC ĐỊNH GÓC CHỤP X-QUANG INLET VÀ OUTLET TỐI ƯU DỰA TRÊN HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH VÙNG CHẬU TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÙNG VƯƠNG NĂM 2025

Kiều Tiến Thủy1,
1 Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Phim X-quang inlet và outlet khung chậu truyền thống thường sử dụng góc nghiêng 45°. Các nghiên cứu quốc tế gần đây cho thấy góc tối ưu có sự biến thiên theo dân tộc và thường lệch so với 45°. Dữ liệu trong nước về góc tối ưu còn hạn chế.


Mục tiêu: Xác định góc chụp X-quang inlet và outlet tối ưu ở người trưởng thành trong mẫu nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương dựa trên tái tạo đa mặt phẳng CT và đánh giá sự khác biệt theo giới tính, nhóm tuổi và chỉ số khối cơ thể (BMI).


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu trên 163 người ≥18 tuổi đã chụp CT bụng-chậu từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2025 tại Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương và các phòng khám vệ tinh. Loại trừ gãy khung chậu, tiền sử phẫu thuật vùng chậu, dị tật bẩm sinh hoặc bệnh lý ảnh hưởng cấu trúc khung chậu. Góc được đo trên tái tạo MPR sagittal bởi hai kỹ thuật viên chẩn đoán hình ảnh có kinh nghiệm, độc lập với nhau. Độ tin cậy giữa người đo (inter-observer) và trong cùng người đo (intra-observer) được đánh giá bằng hệ số tương quan nội lớp (ICC). Phân tích bằng SPSS 26.0 (p < 0,05). Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức Bệnh viện phê duyệt.


Kết quả: Góc inlet tối ưu trung bình là 32,04° ± 2,04° (95%CI: 31,73–32,35). Góc outlet tối ưu trung bình là 55,21° ± 1,81° (95%CI: 54,93–55,49). Độ tin cậy phép đo rất cao: ICC inter-observer cho góc inlet = 0,94 (95%CI: 0,92–0,96) và outlet = 0,93 (95%CI: 0,91–0,95); ICC intra-observer lần lượt là 0,96 và 0,95 (tất cả p < 0,001). Chưa ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo giới tính, nhóm tuổi hay nhóm BMI (tất cả p > 0,05). Nhóm béo phì có cỡ mẫu rất nhỏ (n = 4) nên khả năng phát hiện khác biệt hạn chế.


Kết luận: Trong mẫu nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương, góc chụp X-quang inlet và outlet tối ưu lần lượt khoảng 32° (nghiêng caudal) và 55° (nghiêng cephalad), khác biệt so với góc 45° thông thường. Độ tin cậy phép đo cao. Việc áp dụng góc phù hợp với đặc điểm mẫu nghiên cứu có tiềm năng cải thiện chất lượng hình ảnh; hiệu quả thực tế cần được kiểm chứng bằng nghiên cứu tiến cứu.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Gardner MJ, Routt ML Jr. The radiographic evaluation of pelvic ring injuries. Orthop Clin North Am. 2004;35(4):439-450.
2. Ricci WM, Mamczak C, Tynan M, Streubel PN, Gardner MJ. Pelvic inlet and outlet radiographic views: a cadaveric study of optimal angles. J Orthop Trauma. 2010;24(6):347-351.
3. Karkhur Y, Tiwari V, Tiwari S, et al. Radiographic assessment of pelvic inlet and outlet view angles in the Indian population. Indian J Orthop. 2018;52(5):512-517.
4. Chua JRB, Unsay JDC. The pelvic inlet and outlet radiographic view in Filipinos: a retrospective study of CT scan measurements and 3-dimensional computed tomography reconstructions. Int J Med Imaging. 2022;10(2):25-31.
5. Melkamu S, Alemayehu G, Hailu S. Radiographic assessment of pelvic inlet and outlet view angles in the Ethiopian population. JBJS Open Access. 2024;9(1):e23.00123.
6. Aydin D, Sarı E, Erler K. Computerised tomography analysis of pelvic inlet and outlet fluoroscopic view angles. Indian J Orthop. 2020;54(5):678-684.
7. Brenner DJ, Hall EJ. Computed tomography—an increasing source of radiation exposure. N Engl J Med. 2007;357(22):2277-2284.