KHẢO SÁT MỨC ĐỘ KHÓ KHĂN CHI TRẢ VÀ NHU CẦU KẾT NỐI NGUỒN LỰC HỖ TRỢ CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN NĂM 2026
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả mức độ khó khăn chi trả chi phí khám, chữa bệnh theo một chỉ số sàng lọc do nhóm nghiên cứu xây dựng; mô tả nhu cầu kết nối nguồn lực hỗ trợ; và phân tích một số yếu tố liên quan ở người bệnh nội trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2026.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích trên 315 người bệnh ≥18 tuổi, điều trị nội trú ít nhất 2 ngày, tuyển chọn liên tiếp theo từng khoa cho đến khi đạt số lượng phân bổ. Chỉ số sàng lọc khó khăn chi trả gồm 4 tiêu chí do nhóm nghiên cứu đề xuất (tự chi ≥30% tổng chi phí; xoay xở tài chính nguy cơ; chi phí ảnh hưởng điều trị; thiếu hụt chi tiêu thiết yếu), chưa qua thẩm định giá trị và độ tin cậy; tổng 0-1 điểm quy ước là nhẹ, 2 điểm là vừa, 3-4 điểm là nặng. Nhu cầu kết nối hỗ trợ được xác định trực tiếp bằng câu hỏi Có/Không. Phân tích dùng Chi-square/Fisher và hồi quy logistic đa biến.
Kết quả: Tuổi trung bình 55,4±17,2; 95,2% sử dụng BHYT. Theo chỉ số sàng lọc, 75,9% ở mức nhẹ, 13,7% mức vừa và 10,5% mức nặng; 27,0% người bệnh tự chi ≥30% tổng chi phí. Các khoản gây áp lực chính là viện phí/đồng chi trả (47,0%), ăn ở (46,0%), thuốc ngoài BHYT (43,8%), đi lại (37,1%) và mất thu nhập (36,8%). Có 48,6% cần kết nối hỗ trợ; 43,1% trong số này cần trong một tuần. Chỉ 47,0% biết dịch vụ CTXH và 20,6% đã được hỗ trợ. Mức khó khăn nặng theo chỉ số sàng lọc có liên quan với nằm viện ≥8 ngày (aOR=2,47), bệnh mạn/nặng chi phí cao (aOR=2,99), kinh tế khó khăn (aOR=4,89) và hộ nghèo/cận nghèo (aOR=2,70); mô hình này có 33 trường hợp/6 biến nên cần diễn giải thận trọng do nguy cơ dữ liệu thưa.
Kết luận: Chỉ số sàng lọc cho thấy một bộ phận người bệnh nội trú gặp khó khăn chi trả và có nhu cầu kết nối hỗ trợ đáng kể, nhưng đây là công cụ sàng lọc bước đầu, chưa phải thước đo chuẩn hóa về gánh nặng tài chính y tế, cần được thẩm định thêm trước khi áp dụng thường quy.
Từ khóa
Khó khăn chi trả, chỉ số sàng lọc, chi trả tiền túi, người bệnh nội trú, nhu cầu kết nối nguồn lực
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Aiga H, Tran Tuan Anh, Phan Can Van, Sakamoto T, Nomura M, Bui Thu Hien, et al. Hidden out-of-pocket spending on health: A cross-sectional study on underestimation of catastrophic health spending in Vietnam. Public Health Pract (Oxf). 2026;12:100817.
3. Bales S, Dao HL. Trends and Differentials in Household Out-of-Pocket Spending for Health in Viet Nam, 2010-2022. World Bank; 2025.
4. Dinh Hong Linh, Nguyen Thi Thu Thuong, Dinh Vien Nhu. Determinants of catastrophic health expenditure: Evidence from a patient survey at public hospitals in the Northern midlands and mountainous areas, Vietnam. Inquiry. 2026;15(2):22799036261457767.
5. Nguyen DT, Bui TMA, Chu HX, Hoang VM. Out-of-Pocket Health Expenditures Among Insured and Uninsured Patients in Vietnam. Asia Pac J Public Health. 2019.
6. Tran BT, Tran TT, Nguyen DQA, Nguyen HL, Nguyen TX, Nguyen NPT, et al. Financial toxicity in patients with cancer: a cross-sectional study at an oncology hospital in central Vietnam. Support Care Cancer. 2024;32(9):581.
7. World Bank. Out-of-pocket expenditure (% of current health expenditure) - Viet Nam. Global Health Expenditure Database; data updated 2025.
8. World Health Organization, World Bank. Tracking universal health coverage: 2025 global monitoring report. Geneva: World Health Organization; 2025.