NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP ÓI KÉO DÀI DO RỐI LOẠN NHU ĐỘNG THỰC QUẢN KHÔNG HIỆU QUẢ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Hữu Hiếu1, , Nguyễn Hữu Bảo Hân1, Lâm Bội Hy1, Vũ Huy Trụ1
1 Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP. Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Ói kéo dài ở trẻ em là một thách thức chẩn đoán, đòi hỏi loại trừ tuần tự các nguyên nhân thực thể và chức năng. Rối loạn nhu động thực quản không hiệu quả thường bị bỏ sót do biểu hiện không điển hình và yêu cầu thăm dò chuyên sâu để chẩn đoán xác định.


Báo cáo ca bệnh: Bệnh nhi nữ 14 tuổi nhập viện với tiền sử ói kéo dài 1 năm, xảy ra 5–7 phút sau ăn kèm sụt 15kg cân nặng. Các thăm dò hình ảnh, nội soi dạ dày 4 lần và test tâm lý trước đó đều không ghi nhận bất thường rõ rệt. Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, bệnh nhi được thực hiện đo áp lực nhu động thực quản độ phân giải cao. Kết quả cho thấy 60% nhịp nuốt thất bại với chỉ số trung vị áp lực giãn tích hợp bình thường (4,1 mmHg), xác định chẩn đoán rối loạn nhu động thực quản không hiệu quả theo tiêu chuẩn Chicago 4.0. Bệnh nhi được điều chỉnh hành vi ăn uống kết hợp điều trị bảo tồn đa mô thức gồm Itopride, Esomeprazole, Alginate. Sau 1 tháng theo dõi, tần suất ói giảm, bệnh nhi dung nạp được lượng thức ăn tăng lên và ngừng sụt cân.


Kết luận: Rối loạn nhu động thực quản không hiệu quả có thể là nguyên nhân gây ói kéo dài đơn độc ở thanh thiếu niên. Việc chỉ định đo áp lực và nhu động thực quản độ phân giải cao sớm đóng vai trò then chốt trong quy trình chẩn đoán các triệu chứng tiêu hóa trên không rõ nguyên nhân, giúp định hướng điều trị kịp thời và hiệu quả.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Kovacic K, Williams S, Li BU, Chelimsky G, Miranda A. High prevalence of nausea in children with pain-associated functional gastrointestinal disorders: are Rome criteria applicable? J Pediatr Gastroenterol Nutr. 2013;57(3):311-315. doi:10.1097/MPG.0b013e3182964203 https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/23591912/
2. Waikar Y. High-resolution esophageal manometry in children. Clin Exp Pediatr. 2023;66(4):155-160. doi:10.3345/cep.2022.00787 https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/36265522/
3. Kamboj AK, Katzka DA, Vela MF, Yadlapati R, Ravi K. A practical approach to ineffective esophageal motility. Neurogastroenterol Motil. 2024;36(9):e14839. doi:10.1111/nmo.14839 https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/38837280/
4. Yadlapati R, Kahrilas PJ, Fox MR, et al. Esophageal motility disorders on high-resolution manometry: Chicago classification version 4.0. Neurogastroenterol Motil. 2021;33(1):e14058. doi:10.1111/nmo.14058 https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33373111/
5. Rengarajan A, Rogers BD, Wong Z, et al. High-resolution manometry thresholds and motor patterns among asymptomatic individuals. Clin Gastroenterol Hepatol. 2022;20(3):e398-e406. doi:10.1016/j.cgh.2020.10.052 https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33144149/
6. Leiman DA, Riff BP, Morgan S, et al. Alginate therapy is effective treatment for GERD symptoms: a systematic review and meta-analysis. Dis Esophagus. 2017;30(5):1-9. doi:10.1093/dote/dow020 https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/28375448/
7. Gyawali CP, Sifrim D, Carlson DA, et al. Ineffective esophageal motility: concepts, future directions, and conclusions from the Stanford 2018 symposium. Neurogastroenterol Motil. 2019;31(9):e13584. doi:10.1111/nmo.13584 https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/30974032/
8. Juzaud M, Lamblin MD, Fabre A, et al. Correlation between clinical signs and high-resolution manometry data in children. J Pediatr Gastroenterol Nutr. 2019;68(5):642-647. doi:10.1097/MPG.0000000000002232 https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/30628985/