TÌNH HÌNH ĐIỀU TRỊ ĐỘNG KINH Ở PHỤ NỮ CÓ THAI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH 2020-2026
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Quản lý động kinh trong thai kỳ là một thách thức do cần cân bằng giữa kiểm soát cơn và nguy cơ gây quái thai của thuốc điều trị động kinh (anti-seizure medications – ASMs). Tại Việt Nam, dữ liệu thực hành lâm sàng còn hạn chế.
Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm điều trị và kết quả kiểm soát cơn ở phụ nữ mang thai mắc động kinh tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh Hà Nội.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 74 phụ nữ mang thai mắc động kinh được điều trị bằng ASMs từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 4 năm 2026. Các biến số bao gồm đặc điểm lâm sàng, loại cơn, phác đồ điều trị trước và trong thai kỳ, kết quả kiểm soát cơn và một số kết cục thai kỳ.
Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 32 ± 4,98 tuổi (nhỏ nhất là 21, lớn nhất là 48 tuổi), tuổi khởi phát động kinh trung bình là 18,63 ± 7,84 tuổi. Cơn động kinh khởi phát toàn thể chiếm 54,05%, cơn khởi phát cục bộ chiếm 45,95%. Số lượng ASMs trung bình sử dụng trước khi mang thai là 2,49 ± 1,13 loại (ít nhất 1 loại, nhiều nhất 5 loại). Sau điều trị ASMs, 54,05% bệnh nhân cải thiện cơn, 24,33% hết cơn hoàn toàn, và 21,62% không cải thiện hoặc nặng hơn. Có 5 trường hợp đình chỉ thai, trong đó 1 trường hợp ghi nhận cơn không kiểm soát được. Trong số 30 phụ nữ có thông tin về tình trạng cho con bú, 21 người có cho con bú, đa số dùng đơn trị liệu (66,67%). Trước khi được chẩn đoán mang thai, 76,2% bệnh nhân đã hoặc đang sử dụng valproate; tất cả các trường hợp này đều được ngừng hoặc chuyển sang liệu pháp thay thế sau khi phát hiện có thai. Trong số các trẻ được sinh ra, chỉ ghi nhận một trường hợp dị tật thận móng ngựa, các trường hợp còn lại đều không phát hiện bất thường.
Kết luận: Kết quả cho thấy đa số phụ nữ mang thai mắc động kinh trong nghiên cứu đạt được kiểm soát cơn tốt và có kết cục thai kỳ thuận lợi khi được quản lý phù hợp. Việc lựa chọn và cá thể hóa phác đồ điều trị, cùng với chuyển đổi thuốc kịp thời khi cần thiết, đóng vai trò then chốt trong việc duy trì kiểm soát cơn và đảm bảo an toàn cho cả mẹ và thai nhi.
Từ khóa
động kinh, thai kỳ, thuốc điều trị động kinh, kiểm soát cơn
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Brigo F, Nucera B, Trinka E, Kalss G. Treatment and care of women with epilepsy before, during, and after pregnancy: a practical guide. Ther Adv Neurol Disord. 2022;15:1-18. doi:10.1177/17562864221101693
3. Fisher RS, Acevedo C, Arzimanoglou A, et al. ILAE Official Report: A practical clinical definition of epilepsy. Epilepsia. 2014;55(4):475-482. doi:10.1111/epi.12550
4. Harden CL, Hopp J, Ting TY, et al. Practice Parameter update: Management issues for women with epilepsy—Focus on pregnancy (an evidence-based review): Obstetrical complications and change in seizure frequency. Neurology. 2009;73(2):126-132. doi:10.1212/WNL.0b013e3181a6b2f8
5. MacDonald SC, Bateman BT, McElrath TF, Hernández-Díaz S. Mortality and Morbidity During Delivery Hospitalization Among Pregnant Women With Epilepsy in the United States. JAMA Neurol. 2015;72(9):981-988. doi:10.1001/jamaneurol.2015.1017
6. Tomson T, Battino D, Bonizzoni E, et al. Comparative risk of major congenital malformations with eight different antiepileptic drugs: a prospective cohort study of the EURAP registry. The Lancet Neurology. 2018;17(6):530-538. doi:10.1016/S1474-4422(18)30107-8
7. Tomson T, Battino D, Bonizzoni E, et al. Dose-dependent risk of malformations with antiepileptic drugs: an analysis of data from the EURAP epilepsy and pregnancy registry. The Lancet Neurology. 2011;10(7):609-617. doi:10.1016/S1474-4422(11)70107- 7
8. Tomson T, Battino D, Bromley R, et al. Management of epilepsy in pregnancy: a report from the International League Against Epilepsy Task Force on Women and Pregnancy. Epileptic Disorders. 2019;21(6):497-517. doi:10.1684/epd.2019.1105.