ĐẶC ĐIỂM ĐIỆN SINH LÝ CỦA CÁC HỘI CHỨNG RUN NGUỒN GỐC TRUNG ƯƠNG: NGHIÊN CỨU TRÊN 360 BỆNH NHÂN
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Run là một rối loạn vận động không chủ ý, nhịp nhàng, lặp đi lặp lại, có thể có nguồn gốc ngoại biên hoặc trung ương. Run Parkinson (PD), run vô căn (ET) và run loạn trương lực (DT) là ba nguyên nhân thường gặp gây hội chứng run nguồn gốc trung ương. Trong thực hành lâm sàng, việc phân biệt các hội chứng này đôi khi gặp khó khăn do sự chồng lấp về triệu chứng. Điện cơ đa pha bề mặt kết hợp phân tích phổ tần số được xem là công cụ hỗ trợ hữu ích trong đánh giá và phân loại run.
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm điện sinh lý của run và đánh giá giá trị của các thông số điện sinh lý trong phân biệt bệnh Parkinson (PD), run vô căn (ET) và run loạn trương lực (DT).
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang và phân tích trên 360 bệnh nhân được chẩn đoán PD (n = 191), ET (n = 122) và DT (n = 47). Tất cả bệnh nhân được đánh giá bằng điện cơ đa pha bề mặt và gia tốc kế. Các thông số khảo sát bao gồm trạng thái xuất hiện run, tần số đỉnh, độ rộng tần số đỉnh và kiểu hình co cơ.
Kết quả: Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 60,87 ± 14,07 tuổi. Tuổi khác biệt có ý nghĩa giữa ba nhóm bệnh (p = 0,002). Run khi nghỉ gặp chủ yếu ở nhóm PD (96,9%), trong khi run tư thế xuất hiện ở toàn bộ bệnh nhân ET và DT. Tần số đỉnh khác biệt có ý nghĩa giữa ba nhóm (p < 0,001), cao nhất ở ET (7,22 ± 1,62 Hz), tiếp đến là DT (5,99 ± 1,64 Hz) và thấp nhất ở PD (5,02 ± 0,92 Hz). Độ rộng tần số đỉnh tăng dần từ PD (0,78 ± 0,14) đến ET (0,85 ± 0,17) và DT (1,29 ± 0,44) (p < 0,001). Kiểu hình co cơ luân phiên chiếm ưu thế ở PD (77,5%), trong khi kiểu hình đồng thì chiếm ưu thế ở ET (81,1%) và DT (78,7%) (p < 0,001). Phân tích hồi quy logistic đa thức cho thấy tần số đỉnh, độ rộng tần số đỉnh và kiểu hình co cơ có giá trị độc lập trong phân biệt các hội chứng run.
Kết luận: Các thông số điện sinh lý, đặc biệt là tần số đỉnh, độ rộng tần số đỉnh và kiểu hình co cơ, có giá trị trong chẩn đoán phân biệt PD, ET và DT. Điện cơ bề mặt kết hợp phân tích phổ tần số có thể là công cụ hỗ trợ hữu ích trong đánh giá bệnh nhân run.
Từ khóa
Bệnh Parkinson, run vô căn, run loạn trương lực, điện cơ bề mặt, tần số đỉnh, độ rộng tần số đỉnh, kiểu hình co cơ
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Louis ED. Clinical differentiation of essential tremor and Parkinson’s disease. Neuroepidemiology. 2012;38(2):111-118.
3. Nisticò R, Pirritano D, Salsone M, Novellino F, Morelli M, Condino F và cs. Synchronous pattern distinguishes resting tremor associated with essential tremor from Parkinsonian tremor. Parkinsonism and Related Disorders. 2011;17(1):30-33.
4. Panyakaew P, Cho HJ, Lee SW, Hallett M. The pathophysiology of dystonic tremors and comparison with essential tremor. Journal of Clinical Medicine. 2020;9(10):3074.
5. Postuma RB, Berg D, Stern M, Poewe W, Olanow CW, Oertel W và cs. MDS Clinical Diagnostic Criteria for Parkinson’s Disease. Movement Disorders. 2015;30(12):1591-1601.
6. Shah BB, van der Stouwe AMM, Elble RJ. Surface electromyography for the diagnosis of tremor syndrome. Tremor and Other Hyperkinetic Movements. 2024;14:1-12.
7. Zhang J, Xing Y, Ma X, Tian Y, Wang Y, Li J và cs. Differential diagnosis of Parkinson disease and essential tremor with electrophysiological tremor analysis. Frontiers in Neurology. 2017;8:334.