ĐƯỜNG TIẾP CẬN XUYÊN CƠ CẮN TRƯỚC TUYẾN MANG TAI TRONG PHẪU THUẬT GÃY LỒI CẦU XƯƠNG HÀM DƯỚI: KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BƯỚC ĐẦU TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG VÀ BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Trần Tuấn Hiệp1, Trương Mạnh Nguyên1, , Lê Ngọc Tuyến2, Đồng Ngọc Quang2, Phạm Nhật Quang2, Hoàng Thị Hương2, Dương Trần Trung2, Tạ Anh Tuấn1, Phạm Quang Dương2, Trần Văn Thắng2, Phan Huy Hoàng2, Dương Chí Hiếu1, Trần Lê Minh1
1 Viện Đào tạo Răng hàm mặt - Trường Đại học Y Hà Nội
2 Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu của đường tiếp cận xuyên cơ cắn trước tuyến mang tai trong phẫu thuật kết hợp xương để điều trị gãy lồi cầu xương hàm dưới.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu được thực hiện trên 18 bệnh nhân gãy lồi cầu xương hàm dưới có chỉ định phẫu thuật tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 7/2025 đến tháng 7/2026. Tất cả bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp kết hợp xương qua đường tiếp cận TMAP với các đường rạch da linh hoạt tùy theo vị trí ổ gãy. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm biến chứng trong và sau phẫu thuật, chức năng thần kinh mặt theo thang điểm House-Brackmann, biên độ há miệng, khớp cắn, kết quả chụp cắt lớp vi tính (CLVT) sau phẫu thuật và mức độ hài lòng của người bệnh.


Kết quả: Trong 18 bệnh nhân được tiến hành nghiên cứu, nam giới chiếm 94,4%; nguyên nhân chủ yếu là tai nạn giao thông. Không ghi nhận trường hợp nào bị liệt thần kinh mặt, chảy máu sau phẫu thuật hoặc tê vùng mang tai. Chỉ có 01 trường hợp (5,6%) xuất hiện rò nước bọt và được điều trị bảo tồn thành công. Sau 3 tháng, toàn bộ bệnh nhân đạt biên độ há miệng trên 35 mm và khớp cắn ổn định. Hình ảnh cắt lớp vi tính sau phẫu thuật cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong nắn chỉnh giải phẫu, phục hồi chiều cao ngành hàm và góc gập của ổ gãy, không ghi nhận tình trạng lỏng hoặc gãy nẹp vít.


Kết luận: Đường tiếp cận đường tiếp cận xuyên cơ cắn trước tuyến mang tai là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị phẫu thuật gãy lồi cầu xương hàm dưới, giúp bộc lộ ổ gãy thuận lợi, hạn chế tổn thương thần kinh mặt, phục hồi tốt chức năng ăn nhai và đạt kết quả giải phẫu khả quan.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Demirdöver C, Geyik A. Open surgical approach to fractures of the mandibular condyle: surgical technique and associated complications. Turk J Med Sci. 2024;54(5):1082-1091. Published 2024 May 22. doi:10.55730/1300-0144.5887
2. Esmaeelinejad M, Sohrabi M. Surgical Approaches to the Temporomandibular Joint. In: Emes Y, Aybar B, Dergin G, eds. Temporomandibular Joint Pathology - Current Approaches and Understanding. InTech; 2018. doi:10.5772/intechopen.74141
3. Narayanan V, Ramadorai A, Ravi P, Nirvikalpa N. Transmasseteric anterior parotid approach for condylar fractures: experience of 129 cases. Br J Oral Maxillofac Surg. 2012;50(5):420-424. doi:10.1016/j.bjoms.2011.09.008
4. Wilson AW, Ethunandan M, Brennan PA. Transmasseteric antero-parotid approach for open reduction and internal fixation of condylar fractures. Br J Oral Maxillofac Surg. 2005;43(1):57-60. doi:10.1016/j.bjoms.2004.09.011
5. Mittermiller PA, Bidwell SS, Thieringer FM, et al. The Comprehensive AO CMF Classification System for Mandibular Fractures: A Multicenter Validation Study. Craniomaxillofacial Trauma Reconstr. 2019;12(4):254-265. doi:10.1055/s-0038-1677459
6. Ellis E, Moos KF, El-Attar A. Ten years of mandibular fractures: An analysis of 2,137 cases. Oral Surg Oral Med Oral Pathol. 1985;59(2):120-129. doi:10.1016/0030-4220(85)90002-7
7. Al-Moraissi EA, Ellis E. Surgical Treatment of Adult Mandibular Condylar Fractures Provides Better Outcomes Than Closed Treatment: A Systematic Review and Meta-Analysis. J Oral Maxillofac Surg. 2015;73(3):482-493. doi:10.1016/j.joms.2014.09.027
8. Bhagol A, Singh V, Kumar I, Verma A. Prospective Evaluation of a New Classification System for the Management of Mandibular Subcondylar Fractures. J Oral Maxillofac Surg. 2011;69(4):1159-1165. doi:10.1016/j.joms.2010.05.050