ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ NẶNG CỦA CƠN HEN PHẾ QUẢN CẤP Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM TRÍ ĐÀ NẴNG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xác định một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của cơn hen phế quản cấp ở trẻ dưới 5 tuổi.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 57 trẻ từ 12 tháng đến dưới 60 tháng tuổi được chẩn đoán cơn hen phế quản cấp và điều trị nội trú tại Khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa Tâm Trí Đà Nẵng từ tháng 4/2024 đến tháng 4/2025.
Kết quả: Ho, khó thở và ran rít/ran ngáy là các triệu chứng gặp ở 100% trường hợp. Các triệu chứng khác bao gồm co kéo cơ hô hấp phụ (82,5%), chảy mũi (28,1%), sốt (15,8%), khò khè (14,0%) và ran ẩm (14,0%). Tăng bạch cầu và tăng bạch cầu trung tính chiếm tỷ lệ cao, lần lượt là 78,9% và 64,9%; tăng bạch cầu ái toan ít gặp (5,3%). CRP tăng được ghi nhận ở 43,9% trường hợp và gặp nhiều hơn ở nhóm trẻ từ 2–5 tuổi so với nhóm dưới 2 tuổi (53,5% so với 14,3%; p = 0,016). Hình ảnh X-quang ngực chủ yếu ghi nhận tăng đậm nhánh phế quản với tỷ lệ 75,0%. Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, tiền sử dị ứng, tăng bạch cầu, tăng bạch cầu trung tính hoặc tăng bạch cầu ái toan với mức độ nặng của cơn hen cấp. Điều trị dự phòng hen phế quản có liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ nặng của cơn hen cấp; tỷ lệ cơn hen nặng thấp hơn ở nhóm trẻ có điều trị dự phòng.
Kết luận: Ho, khó thở và ran rít/ran ngáy là các biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất của cơn hen phế quản cấp ở trẻ dưới 5 tuổi. Tăng bạch cầu, tăng bạch cầu trung tính và tăng CRP là những bất thường cận lâm sàng thường gặp. Điều trị dự phòng hen phế quản là yếu tố duy nhất có liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ nặng của cơn hen phế quản cấp.
Từ khóa
Hen phế quản cấp, trẻ dưới 5 tuổi, bạch cầu ái toan, yếu tố nguy cơ
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Bùi Kim Thuận (2018), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu quả kiểm soát hen ở trẻ dưới 5 tuổi theo các dạng phenotype, Luận án Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng.
3. Ebmeier S, Thayabaran D, Braithwaite I, Bénamara C, Weatherall M, Beasley R. Prevalence, deaths, and disability-adjusted life-years due to asthma and its attributable risk factors in 204 countries and territories, 1990-2019. Chest. 2022;161(2):318-329. doi:10.1016/j.chest.2021.09.042.
4. Lê Thị Thu Hương (2017), Nghiên cứu biến đổi một số tế bào viêm và cytokine trong máu ngoại vi ở trẻ hen phế quản, Trường Đại học Y Hà Nội.
5. Trần Anh Tuấn (2006), “Đặc điểm của hen phế quản ở trẻ dưới 2 tuổi tại Bệnh viện Nhi Đồng I TP. Hồ Chí Minh”, Y học TP. Hồ Chí Minh, 10(1), tr. 123-129.
6. Global Initiative for Asthma (2024), Global Strategy for Asthma Management and Prevention.
7. Rivela S., Flores R., Jones M. (2023), “The Complete Blood Count: A Practical Tool for the Pediatrician”, Pediatrics in Review, 44(7), pp. 363-382.
8. Yoshihara S., Yamada Y., Abe T., et al. (2006), “Association of epithelial damage and signs of neutrophil mobilization in the airways during acute exacerbations of paediatric asthma”, Clinical and Experimental Immunology, 144(2), pp. 212-216.