PHƠI NHIỄM VỚI THỜI TIẾT CỰC ĐOAN VÀ SỨC KHỎE CỦA LAO ĐỘNG TỰ DO LÀM VIỆC NGOÀI TRỜI TẠI BỐN ĐÔ THỊ LỚN Ở VIỆT NAM

Nguyễn Văn Kính1, , Nguyễn Thu Giang2, Trương Hồng Sơn1,3, Vũ Thị Minh Hạnh4, Lê Việt Anh3
1 Tổng hội Y học Việt Nam
2 Viện Phát triển Sức khỏe Cộng đồng Ánh sáng - LIGHT
3 Viện Y học ứng dụng Việt Nam
4 Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, Bộ Y tế

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả phơi nhiễm với thời tiết cực đoan, sức khỏe và việc thực hiện các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu của lao động tự do làm việc ngoài trời tại bốn đô thị.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1.208 người làm xây dựng, bán hàng rong, xe ôm/giao hàng hoặc bốc vác tại Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ.


Kết quả: Người tham gia làm việc trung bình 8,7 giờ/ngày và 55,3 giờ/tuần; 95,4% phơi nhiễm nắng nóng, 71,0% mưa lớn và 38,7% ngập lụt. Có 55,6% tiếp xúc với 6–10 yếu tố nguy cơ thời tiết, môi trường và nghề nghiệp, 29,1% với 11–15 yếu tố. Sau ngày làm việc, 68,5% báo cáo triệu chứng cơ-xương-khớp, 24,2% triệu chứng mắt và 23,7% triệu chứng hô hấp. Trong 12 tháng, 42,6% tự báo cáo ít nhất một biến cố bất lợi về sức khỏe hoặc công việc mà họ quy cho thời tiết bất thường; 35,7% cảm nhận ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần. Tỷ lệ lo âu và căng thẳng từ mức nhẹ trở lên theo DASS-21 lần lượt là 32,9% và 17,8%. Có 73,5% có bảo hiểm y tế nhưng chỉ 2,2% tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Trong mô hình đa biến, mỗi điểm nhận thức tăng thêm liên quan với điểm thực hiện biện pháp ứng phó tăng trung bình 0,774 điểm (KTC 95%: 0,735–0,812).


Kết luận: Mẫu khảo sát có mức phơi nhiễm cao cùng nhiều bất lợi về sức khỏe và an sinh xã hội. Cần phối hợp thích ứng khí hậu, sức khỏe nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội. Thiết kế cắt ngang và tuyển mẫu phi xác suất không cho phép suy luận nhân quả hoặc suy rộng tỷ lệ cho quần thể.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. World Health Organization. Climate change and health. Geneva: WHO; 2023.
2. Tổng cục Thống kê. Tổng quan về lao động có việc làm phi chính thức ở Việt Nam. Nhà xuất bản Thanh niên; 2022.
3. International Labour Organization. Heat at work: implications for safety and health: a global review of the science, policy and practice. Geneva: ILO; 2024.
4. Lovibond PF, Lovibond SH. The structure of negative emotional states: comparison of the Depression Anxiety Stress Scales (DASS) with the Beck Depression and Anxiety Inventories. Behaviour Research and Therapy. 1995;33(3):335-343.
5. Tran TD, Tran T, Fisher J. Validation of the Depression Anxiety Stress Scales (DASS) 21 as a screening instrument for depression and anxiety in a rural community-based cohort of northern Vietnamese women. BMC Psychiatry. 2013;13:24.
6. Ioannou LG, Foster J, Morris NB, Piil JF, Havenith G, Mekjavic IB, Kenny GP, Nybo L, Flouris AD. Occupational heat strain in outdoor workers: a comprehensive review and meta-analysis. Temperature. 2022;9(1):67-102.
7. Dodman D, Sverdlik A, Agarwal S, Kadungure A, Kothiwal K, Machemedze R, Verma S. Climate change and informal workers: towards an agenda for research and practice. Urban Climate. 2023;48:101401.
8. Rana IA, Khaled S, Jamshed A, Nawaz A. Social protection in disaster risk reduction and climate change adaptation: a bibliometric and thematic review. J Integr Environ Sci. 2022;19(1):65-83.