KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI CHỈNH HÌNH CUỐN MŨI DƯỚI BẢO TỒN NIÊM MẠC Ở NGƯỜI BỆNH VIÊM MŨI MẠN TÍNH QUÁ PHÁT
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi chỉnh hình cuốn mũi dưới bảo tồn niêm mạc ở người bệnh viêm mũi mạn tính quá phát.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca trên 51 người bệnh được phẫu thuật tại Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện 19-8, từ tháng 10/2025 đến tháng 7/2026. Người bệnh được đánh giá trước phẫu thuật, khi ra viện và sau 4, 8, 12 tuần bằng thang điểm NOSE, VAS, gương Glatzel và nội soi mũi.
Kết quả: Tuổi trung bình là 33,01 ± 12,07; nam giới chiếm 70,6%. Tất cả người bệnh có tắc nghẽn mũi mức nặng hoặc rất nặng theo NOSE; điểm NOSE trước phẫu thuật là 81,37 ± 9,43. Quá phát cuốn dưới độ III chiếm 72,5%; phẫu thuật hai bên chiếm 82,4%. Sau 12 tuần, điểm NOSE giảm còn 3,14 ± 3,99; VAS giảm từ 6,63 ± 0,97 khi ra viện còn 0,43 ± 0,75; chỉ số Glatzel tăng từ 3,25 ± 0,73 cm trước phẫu thuật lên 8,87 ± 0,62 cm (p < 0,001 giữa các thời điểm). Liền niêm mạc tốt đạt 98,0%, cuốn mũi nhỏ và khe mũi thông thoáng đạt 98,0%; 98,0% không dính. Kết quả chung tốt đạt 92,2%. Chảy máu sau mổ, phù nề nhiều và nhiễm trùng lần lượt gặp ở 9,8%, 11,8% và 2,0%.
Kết luận: Phẫu thuật nội soi chỉnh hình cuốn mũi dưới bảo tồn niêm mạc cải thiện rõ triệu chứng, thông khí mũi và hình ảnh nội soi sau 12 tuần, với tỷ lệ kết quả tốt cao.
Từ khóa
Quá phát cuốn mũi dưới, chỉnh hình cuốn mũi, bảo tồn niêm mạc, NOSE, Glatzel
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Nguyễn Văn Trường, Nguyễn Minh Ngọc, Trương Mạnh Cường, Nguyễn Đức Nhật, Lê Trung Nhật. Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi chỉnh hình cuốn dưới bằng phương pháp tạo hình vạt trong điều trị viêm quá phát cuốn mũi dưới. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;546(2):379-383. doi:10.51298/vmj.v546i2.12675.
3. Quản Thành Nam, Nghiêm Đức Thuận, Nguyễn Quyết Thắng, Chử Thị Hồng Ninh. Kết quả phẫu thuật chỉnh hình cuốn dưới điều trị triệu chứng ngạt mũi ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính có quá phát cuốn mũi dưới. Tạp chí Y học Cộng đồng. 2024;65(CĐ2-NCKH):87-94. doi:10.52163/yhc.v65iCD2.1016.
4. Ngô Hoàng Gia, Châu Chiêu Hòa. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị viêm mũi quá phát cuốn mũi dưới bằng máy cắt hút qua nội soi tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ năm 2022-2024. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2024;(76):195-201. doi:10.58490/ctump.2024i76.2543.
5. Trần Anh Tuấn, Phan Thị Tâm Đan. Đánh giá kết quả điều trị nghẹt mũi do quá phát cuốn mũi dưới bằng điện cực Coblator cắt cuốn EIC6895-01. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;542(3):31-35. doi:10.51298/vmj.v542i3.11163.
6. Park SC, et al. Long-term outcomes of turbinate surgery in patients with allergic rhinitis: a systematic review and meta-analysis. JAMA Otolaryngol Head Neck Surg. 2023;149(1):15-23. doi:10.1001/jamaoto.2022.3567.
7. Levy E, et al. Inferior turbinate reduction: comparing post-operative bleeding between different surgical techniques. J Laryngol Otol. 2022;136(5):427-432. doi:10.1017/S0022215121003297.
8. Stewart MG, Witsell DL, Smith TL, Weaver EM, Yueh B, Hannley MT. Development and validation of the Nasal Obstruction Symptom Evaluation (NOSE) scale. Otolaryngol Head Neck Surg. 2004;130(2):157-163. doi:10.1016/j.otohns.2003.09.016.