HÌNH THÁI CHÂN RĂNG VÀ ỐNG TỦY RĂNG CỐI NHỎ THỨ HAI HÀM DƯỚI Ở NGƯỜI VIỆT THEO PHÂN LOẠI MỚI: NGHIÊN CỨU TRÊN PHIM CHỤP CẮT LỚP ĐIỆN TOÁN CHÙM TIA HÌNH NÓN

Nguyễn Thị Nhật Hạ1,, Nguyễn Phạm Nhật Tuyền1, Phạm Văn Khoa1, Hoàng Đạo Bảo Trâm1, Huỳnh Kim Khang1
1 Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Việc xác định hình thái ống tủy trên răng cối nhỏ thứ hai của người Việt là cần thiết để đạt được hiệu quả tối đa khi thực hiện điều trị nội nha cũng như ghi nhận được đặc điểm chung của nhóm răng này tại Việt Nam. Gần đây, Ahmed đã đề xuất một phân loại mới nhằm mô tả được các hệ thống chân răng và hệ thống ống tủy phức tạp, khắc phục nhược điểm của phân loại Vertucci. Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm hình thái chân răng và ống tủy của răng cối nhỏ thứ hai hàm dưới ở người Việt bằng phân loại của Ahmed (2017), đồng thời phân tích sự khác biệt về các đặc điểm này theo nhóm tuổi và giới tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, cắt ngang, lấy từ nguồn phim chụp cắt lớp điện toán chùm tia hình nón (CBCT) có sẵn tại phòng khám chuyên khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược TPHCM. Hình thái chân răng và ống tủy của răng cối nhỏ thứ hai hàm dưới được ghi nhận theo phân loại của Ahmed (2017). Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 27.0 với thống kê mô tả, thống kê phân tích và mức ý nghĩa 0,05. Kết quả: Toàn bộ (100%) răng cối nhỏ thứ hai hàm dưới (R5D) trong nghiên cứu đều có một chân. Hầu hết răng có hình thái ống tủy dạng 1R5D1 (97,5%), kế tiếp là dạng 1R5D1-2-1 (1,5%). Một số hình thái khác như 1R5D1-2, 1R5D1-2-1-2 , 1R5D1-2-3-2-1, 1R5D1-2-1-2-1 cũng được ghi nhận với tỉ lệ rất nhỏ (< 0,5% mỗi loại). Rãnh chân răng và ống tủy hình C được ghi nhận với tỉ lệ xuất hiện nhỏ, lần lượt là 3,7% và 0,8%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của hình thái ống tủy của răng cối nhỏ thứ hai hàm dưới theo nhóm tuổi và giới tính. Kết luận: Răng cối nhỏ thứ hai hàm dưới ở người Việt hầu hết có một chân răng và một ống tủy, dù cũng ghi nhận một số hình thái ống tủy phức tạp với tỉ lệ nhỏ, đồng thời không có khác biệt về đặc điểm hình thái ống tủy theo nhóm tuổi và giới tính. Phân loại mới của Ahmed hỗ trợ tốt cho việc nghiên cứu các hình thái ống tủy phức tạp.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Karobari MI, Assiry AA, Lin GSS, et al. Roots and Root Canals Characterization of Permanent Mandibular Premolars Analyzed Using the Cone Beam and Micro Computed Tomography-A Systematic Review and Metanalysis. J Clin Med. 2023;12(6):2183.
2. Ahmed HMA, Versiani MA, De‐Deus G, et al. A new system for classifying root and root canal morphology. Int Endodontic J. 2017;50(8):761–770.
3. Fan B, Cheung GSP, Fan M, et al. C-shaped canal system in mandibular second molars: Part II--Radiographic features. J Endod. 2004;30(12): 904–908.
4. Cleghorn BM, Christie WH, Dong CCS. The Root and Root Canal Morphology of the Human Mandibular Second Premolar: A Literature Review. Journal of Endodontics. 2007;33(9):1031–1037.
5. Wolf TG, Anderegg AL, Wierichs RJ, et al. Root canal morphology of the mandibular second premolar: a systematic review and meta-analysis. BMC Oral Health. 2021;21:309.
6. Chen C, Zhu T, Wu H, et al. Prevalence and correlation of C-shaped root canals of mandibular premolars and molars in Eastern Chinese individuals. Sci Rep. 2022;12:19779.