ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC TỰ KHÁNG THỂ TRONG BỆNH XƠ CỨNG BÌ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Cao Thanh Ngọc1,2, Nguyễn Châu Tuấn1,
1 Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM
2 Đại học Y Dược TP.HCM

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Xơ cứng bì là bệnh lý tự miễn đặc trưng với tổn thương mạch máu, dày cứng da và tổn thương các tạng. Các tự kháng thể trong xơ cứng bì có vai trò trong hỗ trợ chẩn đoán và tiên lượng bệnh. Hiện nay, số liệu về các tự kháng thể trong xơ cứng bì ở Việt Nam vẫn còn hạn chế. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang với 83 bệnh nhân xơ cứng bì (theo tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ và Liên đoàn chống thấp Châu Âu 2013) đến khám tại phòng khám Nội cơ xương khớp – Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ 03/2023 đến 09/2024. Các tự kháng thể được thực hiện theo xét nghiệm EUROIMMUN bằng kỹ thuật line blot. Kết quả: Trong 83 bệnh nhân xơ cứng bì, nữ giới chiếm 85.54%, tuổi trung bình là 49.45 ± 14.81. 53.01% bệnh nhân xơ cứng bì lan tỏa. 66.27% bệnh nhân có tự kháng thể đặc hiệu. Tự kháng thể thường gặp nhất là anti Scl-70, chiếm 50.60%. Anti CENP-A và anti CENP-B chiếm lần lượt 6.02% và 10.84% các trường hợp. Anti RNA polymerase III gồm anti RP-11 và anti RP-155 dương tính ở 20.48% và 14.46% trường hợp. Đồng mắc hai loại tự kháng thể gặp ở số ít các trường hợp. Các tự kháng thể không chuyên biệt và thường gặp trong các hội chứng chồng lấp như anti Ku (24.10%), anti Ro52 (21.68%). Kết luận: Anti Scl-70 là tự kháng thể thường gặp nhất trong xơ cứng bì hệ thống, thường gặp trong xơ cứng bì lan tỏa và có bệnh phổi mô kẽ. Hai nhóm tự kháng thể anti CENP và anti RNA polymerase III chiếm tỉ lệ thấp hơn. Một số tự kháng thể không đặc hiệu vẫn có thể bắt gặp và không có mối liên quan với các biểu hiện lâm sàng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Volkmann ER, Andréasson K, Smith V. Systemic sclerosis. The Lancet. 2023;401 (10373): 304-318. doi:10.1016/S0140-6736(22) 01692-0
2. Tian J, Kang S, Zhang D, et al. Global, regional, and national incidence and prevalence of systemic sclerosis. Clinical Immunology. 2023;248:109267.
3. Sobolewski P, Maślińska M, Wieczorek M, et al. Systemic sclerosis–multidisciplinary disease: clinical features and treatment. Reumatologia/ Rheumatology. 2019;57(4):221-233.
4. Hamaguchi Y. Autoantibody profiles in systemic sclerosis: predictive value for clinical evaluation and prognosis. The Journal of dermatology. 2010;37(1):42-53.
5. Arandia NI, Simeón-Aznar CP, Del Castillo AG, et al. Influence of antibody profile in clinical features and prognosis in a cohort of Spanish patients with systemic sclerosis. Clin Exp Rheumatol. 2017;35(Suppl 106):98-105.
6. Ghosh S, Tanna D, Telang K, Dhuria S, Gupta R. Clinical and autoantibody profiles of systemic sclerosis patients: A cross-sectional study from North India. Indian Journal of Dermatology, Venereology and Leprology. 2023:1-7.
7. Van Den Hoogen F, Khanna D, Fransen J, et al. 2013 classification criteria for systemic sclerosis: an American College of Rheumatology/European League against Rheumatism collaborative initiative. Arthritis & Rheumatism. 2013;65(11):2737-2747.
8. Mahmud S, Choudhury MR, Bandhan IH, et al. Associations of autoantibodies and clinical profile of the patients with systemic sclerosis. Rheumatology & Autoimmunity. 2022;2(03):141-149.
9. Mecoli CA, Casciola-Rosen L. An update on autoantibodies in scleroderma. Current opinion in rheumatology. 2018;30(6):548.
10. Chang WS, Schollum J, White DH, Solanki KK. A cross-sectional study of autoantibody profiles in the Waikato systemic sclerosis cohort, New Zealand. Clinical rheumatology. 2015;34:1921-1927.