KIẾN THỨC, THỰC HÀNH TỰ KHÁM VÚ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG Ở PHỤ NỮ TỚI KHÁM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY NĂM 2025

Phạm Thị Hoàng1,, Trần Quang Huy2, Đỗ Quang Tuyển3, Vũ Thị Thanh An1, Lê Thị Hải1, Đỗ Thị Vân Anh4
1 Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City
2 Trường Đại học Đại Nam
3 Trường Đại học Thăng Long
4 Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Smart City

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thực hành tự khám vú ở phụ nữ tới khám tại Khoa Vú, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức, thực hành tự khám vú của đối tượng nghiên cứu. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính. Dữ liệu định lượng được thu thập từ 281 phụ nữ thông qua bảng hỏi cấu trúc, phân tích định tính được thực hiện qua 10 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc, sử dụng phương pháp phân tích nội dung quy ước. Xử lý bằng phần mềm SPSS 27.0. Kết quả: Đối tượng nghiên cứu: chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi 30 - 39 (45,6%), tiếp đến là nhóm 40 - 49 (23,1%),  phần lớn phụ nữ đạt trình độ từ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên (71,9%), nghề nghiệp phổ biến nhất là nhân viên văn phòng (43,4%). 63,3% thông tin về tự khám vú đối tượng nghiên cứu biết được là từ nhân viên y tế. Trong số 281 phụ nữ tham gia nghiên cứu có 268 người (95,4%) cho biết nơi có thể phát hiện sớm ung thư vú. Phụ nữ có kiến thức tự khám vú đạt chiếm 50,2%; 44,1% phụ nữ đã từng thực hành tự khám vú, trong đó có 23,5% thực hành đạt. Phụ nữ có trình độ văn hóa cao và làm nghề nhẹ có khả năng thực hành tự khám vú cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng (OR lần lượt là 3,64 và 3,18, p < 0,01). Đáng chú ý, những người có tiền sử gia đình mắc ung thư vú có tỷ lệ thực hành cao gấp gần 10 lần (OR = 9,7), cho thấy yếu tố tiền sử gia đình là một động lực mạnh trong việc chủ động tầm soát. Kết luận: Kiến thức và thực hành tự khám vú còn chưa tương xứng, phản ánh khoảng cách giữa nhận thức và hành vi sức khỏe. Cần thiết kế các chương trình giáo dục tích hợp kỹ năng thực hành, chú trọng yếu tố tâm lý – xã hội và cá thể hóa nội dung theo từng nhóm phụ nữ.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Thị Hằng, Lê Thanh Tùng, Trần Văn Việt, và cộng sự. “Tác động của Can thiệp giáo dục sức Khoẻ đối với thực hành tự khám Vú của phụ nữ vùng nông thôn tỉnh Hải Dương năm 2022”. Tạp chí Y học Dự phòng 35: 73–79
2. Trần Thị Thu Hương (2021). Kiến thức và kỹ năng tự khám vú ở sinh viên điều dưỡng tại Đại học Duy Tân. Tạp chí Khoa học Điều dưỡng Việt Nam.
3. Nguyễn Minh Phương, Lê Thị Kim Định (2020). Kiến thức và thực hành tự khám vú của phụ nữ từ 18 đến 60 tuổi tại TP. Cần Thơ. Tạp chí Y tế Cộng đồng.
4. Phạm Thúy Quỳnh (2020), “Kiến thức, thực hành tự khám vú của phụ nữ phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội”, Nghiên cứu khoa học khoa học điều dưỡng, tập 3 (2), tr. 14-22
5. Nguyễn Thị Kim Thu, Nguyễn Thị Tuyến, Nguyễn Thị Liên và cộng sự (2024). “Kiến thức về tự khám vú của phụ nữ đến khám phụ khoa tại bệnh viện trung ương Quân đội 108 năm 2023”, tạp chí y dược lâm sàng 108. Tập 19 – số 2/2024.
6. Al-Naggar, R.A., Bobryshev, Y.V. (2019). Practice and barriers of breast self-examination among Malaysian women. Asian Pacific Journal of Cancer Prevention, 20(4), 1231-1236.
7. Dagne, A. H, Wondimagegnehu, A, & Deyessa, N. (2021). Breast self-examination: Knowledge and practice among female university students in Ethiopia. International Journal of Women's Health, 13, 123–131.
8. Getie A Mereta, Shegaze, M., Mekonnen, B., et al (2020). Breast self-examination practice and associated factors among women aged 20–64 years in Arba Minch Zuria district, Gamo Zone, SNNPR, Ethiopia. Research Square.