ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT HỞ LẤY SỎI THẬN TẠI BỆNH VIỆN ĐÀ NẴNG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Sỏi thận là bệnh lý phổ biến, dù các phương pháp xâm lấn tối thiểu ngày càng phát triển, phẫu thuật hở vẫn giữ vai trò cần thiết trong các trường hợp sỏi phức tạp, bất thường giải phẫu, thất bại hoặc chống chỉ định với các kỹ thuật khác, đặc biệt khi bệnh nhân Việt Nam thường đến muộn. Mục tiêu: Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân sỏi thận; đánh giá kết quả sớm phẫu thuật hở lấy sỏi thận. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca bệnh trên 35 bệnh nhân được chẩn đoán sỏi thận có chỉ định phẫu thuật hở tại Bệnh Viện Đà Nẵng từ tháng 5/2023 đến tháng 3/2024. Thông tin thu thập theo bảng số liệu soạn sẵn qua hồ sơ bệnh án. Kết quả: Tuổi trung bình là 54,4 ± 11,8 tuổi, nhóm tuổi mắc nhiều nhất là 60- 69 tuổi chiếm 37,1%; triệu chứng lâm sàng gặp nhiều nhất là đau vùng thắt lưng chiếm 100%; kích thước sỏi trung bình 28,8 ± 11,6 mm, trong đó sỏi lớn nhất là 54 mm, sỏi nhỏ nhất là 15 mm; số lượng sỏi bệnh nhân có nhiều hơn 5 viên sỏi chiếm 42,9%; sỏi san hô toàn phần 40%, sỏi san hô bán phần 60%; thận ứ nước độ I 31,4%; thận ứ nước độ II 28,6%; thận ứ nước độ III 25,7%; thời gian phẫu thuật trung bình 89,7 ± 27,1 phút; phương pháp phẫu thuật mở bể thận – nhu mô chiếm tỷ lệ cao nhất với 62,9%; 5,7% nhiễm khuẩn vết mổ; 46% trường hợp còn sót sỏi. Kết luận: Đánh giá đặc điểm của sỏi và những vấn đề đường tiết niệu liên quan đến điều trị sỏi thận rất quan trọng trong việc lên kế hoạch điều trị. PTHLST cho kết quả sớm tương đối tốt.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
kết quả sớm, phẫu thuật hở lấy sỏi thận, sỏi thận.
Tài liệu tham khảo
2. Ngô Gia Hy (1989), Niệu học, Nhà xuất bản Y học, tr.11-24.
3. Assimos, D. G et al. (1989), "The role of open stone surgery since extracorporeal shock wave lithotripsy", Journal of Urol. 142(2 Pt 1), pp. 263-7.
4. Trần Văn Sáng, Vũ Hồng Thịnh và Đỗ Anh Toàn (2003), "Phẫu thuật sỏi san hô tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh", Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 7, tr. 62-65.
5. Pearle M.S., Antonelli J.A., Lotan Y. (2020), “Urinary Lithiasis”, Campbell’s Urology, 12th, Saunders, Philadelphia, p. 9252-9406.
6. Trường Văn Cẩn (2021), “Nghiên cứu điều trị sỏi thận bằng phương pháp phẫu thuật lấy sỏi thạn qua da trên bệnh nhân đã mổ mở lấy sỏi”, Luận án Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y dược Huế, Huế.
7. Kale S.S., Ghole V.S., Pawar N.J. et al. (2014), “Inter-annual variability of urolithiasis epidemic from semi-arid part of Deccan Volcanic Province, India: climatic and hydrogeochemical perspectives”, International Journal of Environmental Health Research, 24(3), p. 278–289.
8. Phan Đăng Chí (2004), “Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật sỏi bể thận tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy điển (Uông bí-Quảng Ninh)”, Luận văn chuyên khoa cấp II, Trường đại học Y Hà Nội, Hà Nội.
9. Trần Văn Hinh (2001), “Nghiên cứu phẫu thuật lấy sỏi thận bằng đường mổ bể thận - nhu mô mặt sau”, Luận án Tiến sĩ Y học, Học viện quân Y, Hà Nội.
10. Hoàng Mạnh An (2013), "Tỷ lệ sót sỏi trong phẫu thuật sỏi thận và các kỹ thuật bổ trợ để hạn chế sót sỏi", Các phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh sỏi tiết niệu, Nhà xuất bản Y học, tr. 202-214.