TỶ LỆ LOÃNG XƯƠNG CẲNG TAY VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở PHỤ NỮ SAU MÃN KINH

Nguyễn Thanh Huyền1,, Nguyễn Thị Thu Hiền1, Đặng Thị Thu Hà1, Lê Xuân Thiệp2, Nguyễn Thanh Hải2
1 Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương
2 Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Smart City, Hệ thống sức khỏe Vinmec

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ loãng xương cẳng tay và khảo sát một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương cẳng tay ở phụ nữ sau mãn kinh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Gồm 166 phụ nữ sau mãn kinh đến đo mật độ xương tại Đơn vị thăm dò chức năng – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 06/2024 đến tháng 12/2024. Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 62,76 ± 7,05 tuổi. Tuổi mãn kinh trung bình là 49,24 ± 3,59 tuổi. Thời gian mãn kinh trung bình là 13,60 ± 8,05 năm. Đa số đối tượng nghiên cứu thuộc nhóm 60 – 69 tuổi (47,6%). Mật độ xương trung bình ở các vị trí ultradistal (UD), mid distal (MID), 1/3 distal (1/3D) của cẳng tay bên không thuận lần lượt là 0,313 ± 0,054 g/cm2; 0,442 ± 0,067 g/cm2; 0,543 ± 0,075 g/cm2. Tỷ lệ loãng xương cẳng tay (LXCT) bên không thuận của đối tượng nghiên cứu là 50,6%; nhóm giảm mật độ xương chiếm 36,7% và nhóm những người có mật độ xương bình thường chiếm 12,7%. Tỷ lệ LXCT có xu hướng tăng theo tuổi, nhóm phụ nữ sau mãn kinh có tuổi trên 70 có tỷ lệ loãng xương cao nhất chiếm 76,7%. Tỷ lệ LXCT có xu hướng tăng ở nhóm phụ nữ sau mãn kinh có chỉ số BMI thấp; nhóm BMI < 22 thì tỷ lệ LXCT cao nhất chiếm 54,9%. Đối tượng nghiên cứu có số năm mãn kinh ≥ 10 năm có khả năng LXCT cao gấp 3,8 lần đối tượng có số năm mãn kinh < 10 năm (p < 0,05). Những phụ nữ có 3 con trở lên có khả năng LXCT cao gấp 2,0 lần những phụ nữ có < 3 con (p < 0,05). Kết luận: Tỷ lệ LXCT của phụ nữ sau mãn kinh là 50,6%; tuổi càng cao nguy cơ LXCT càng lớn; người có chỉ số BMI dưới 22 làm tăng nguy cơ LXCT; số năm mãn kinh ≥ 10 năm làm tăng nguy cơ LXCT lên 3,8 lần; Có từ 3 con trở lên, nguy cơ LXCT tăng lên 2,0 lần (p < 0,05).

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Văn Tuấn (2019). Loãng xương thầm lặng nguy hiểm ở Việt Nam chỉ có 1%-5% bệnh nhân loãng xương được điều trị.
2. Trần Thị Tô Châu, Vũ Thị Thanh Thủy (2006). Nhận xét một số bệnh xương khớp và mật độ xương trên phụ nữ mãn kinh ở Hà Nội, Y học lâm sàng. Số 4, tr. 43-45.
3. Bone Mineral Density Testing – Adult Official Positions of the ISCD update 2019. The International Society For Clinical Densitometry.
4. Gautam KP, Cherian KE, Kapoor N, Thomas N, Paul TV. Utility and validation of bone mineral density measurements at forearm in predicting trabecular microarchitecture and central‐site osteoporosis in aging Indian postmenopausal women—a promising surrogate? Aging Med. 2022;5(1):30-37.
5. Emaus N, Berntsen GKR, Joakimsen R, Fonnebø V. Longitudinal Changes in Forearm Bone Mineral Density in Women and Men Aged 45–84 Years: The Tromsø Study, a Population-based Study. Am J Epidemiol. 2006;163(5):441-449.
6. Holloway-Kew Kara, Betson AG, Anderson KB, Kotowicz MA, Pasco JA. Associations between ultra-distal forearm bone mineral density and incident fracture in women. Osteoporos Int. 2024;35(6):1019-1027.
7. Đinh Thị Diệu Hằng, Nguyễn Huyền Nhung (2018). Mật độ xương của 200 phụ nữ mãn kinh ở tỉnh Hải Dương. Tạp chí Y học Việt Nam; tập 470, tr. 142 – 147.