KHẢO SÁT NỒNG ĐỘ M2BPGI HUYẾT THANH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN SIÊU VI B MẠN

Bùi Thị Nhung1,2, Huỳnh Hiếu Tâm1,
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2 Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất Đồng Nai

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Viêm gan siêu vi B (VGSVB) mạn là vấn đề sức khỏe toàn cầu với tỷ lệ mắc bệnh cao, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, nồng độ M2BPGi huyết thanh tương quan chặt chẽ với mức độ xơ hóa gan và có liên quan đến nhiều yếu tố khác. Tuy nhiên, dữ liệu tại Việt Nam về nồng độ M2BPGi còn rất khan hiếm. Mục tiêu: Khảo sát nồng độ M2BPGi huyết thanh và một số yếu tố liên quan với nồng độ M2BPGi huyết thanh ở bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 43 bệnh nhân đến khám và điều trị VGSVB mạn tại Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất Đồng Nai từ tháng 05 năm 2025 đến tháng 09 năm 2025. Kết quả: Về đặc điểm chung, tỷ lệ nam/nữ gần tương đương, độ tuổi trung bình là 48,21 ± 10,38. Gần một phần tư bệnh nhân có người thân mắc viêm gan siêu vi B và 9,3% người thân mắc xơ gan hay ung thư gan nguyên phát. Bệnh nền thường gặp nhất là tăng huyết áp, chiếm 16,3%. Khoảng hai phần ba bệnh nhân có giai đoạn xơ hoá thuộc nhóm F2, còn lại thuộc nhóm F0 và F1. Tỷ lệ M2BPGi dương tính chiếm khoảng một phần ba, trong đó 27,9% dương tính 1+ và còn lại là dương tính 2+. Nồng độ M2BPGi trung vị ghi nhận là 0,82 COI. Nồng độ M2BPGi có xu hướng tăng cao nhất ở nhóm tuổi > 60. Có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ M2BPGi với phân độ xơ hóa gan từ F0 đến F2 (r = 0,331, p = 0,03). Đồng thời, nhóm M2BPGi dương tính có liên quan đến tăng tỷ lệ phân nhóm xơ hóa gan nặng hơn với OR = 5,6 (KTC 95%: 1,06-29,59; p=0,031). Kết luận: Nồng độ M2BPGi đạt mức dương tính khoảng một phần ba bệnh nhân VGSVB mạn. Có mối liên quan giữa nồng độ M2BPGi với nhóm tuổi và mức độ xơ hóa gan

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Du Đoàn Công, Hổ Võ Anh,Yến Huỳnh Thị Kim (2019), Nghiên cứu đặc điểm cận lâm sàng và kết quả điều trị sớm tenofovir ở bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang, Tạp chí Y tế Công cộng, 20 pp. 1-7.
2. Hoàng Bùi Hữu, Sương Nguyễn Thị Băng, Sang Phan Thế (2022), Chỉ dấu mới M2BPGi trong đánh giá xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút B mạn tính, Journal of 108 - Clinical Medicine and Phamarcy, pp. 51-59.
3. Ananchuensook P., Moonlisarn K., Boonkaew B. (2025), Diagnostic Performance of Serum Mac-2-Binding Protein Glycosylation Isomer as a Fibrosis Biomarker in Non-Obese and Obese Patients with MASLD, Biomedicines, 13 (2), pp. 1-13.
4. Inoue T.,Tanaka Y. (2020), Novel biomarkers for the management of chronic hepatitis B, Clin Mol Hepatol, 26 (3), pp. 261-279.
5. Tamaki N., Kurosaki M., Loomba R. (2021), Clinical Utility of Mac-2 Binding Protein Glycosylation Isomer in Chronic Liver Diseases, Ann Lab Med, 41 (1), pp. 16-24.
6. Bộ Y tế (2021), Kế hoạch phòng chống bệnh viêm gan vi rút giai đoạn 2021-2025, Quyết định số 4531/QĐ-DP ngày 24/9/2021 - Bộ Y tế.
7. Bộ Y tế (2019), Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh viêm gan vi rút B, Quyết định số: 3310/QĐ-BYT ngày 29 tháng 7 năm 2019.
8. Hoàng Bùi Hữu, Sương Nguyễn Thị Băng, Sang Phan Thế (2022), Chỉ dấu mới M2BPGi trong đánh giá xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan vi rút B mạn tính, Journal of 108-Clinical Medicine and Phamarcy, 17 (7), pp. 51-59.