ĐẶC ĐIỂM NHIỄM EPSTEIN-BARR VIRUS Ở TẾ BÀO LYMPHO TRONG BỆNH LÝ HUYẾT HỌC LÀNH TÍNH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1

Trần Ngọc Minh1, Trịnh Nhật Trường1, Nguyễn Hoàng Tuyết Minh1, Nguyễn Thị Mai Anh1,2,
1 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
2 Bệnh viện Nhi Đồng 1

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đại cương: Tình trạng nhiễm EBV ở các bệnh lý huyết học lành tính gồm 3 thể: EBV cấp tính (Acute EBV -AEBV), EBV mạn tính (CEBV) và EBV mãn tính hoạt động (CAEBV). Định lượng  DNA EBV trên từng dòng tế bào nhiễm góp phần quan trọng trong việc xác định diễn tiến của các bệnh lý huyết học lành tính liên quan đến EBV. Vì thế việc xác định dòng tế bào nhiễm EBV sẽ giúp hỗ trợ chẩn đoán nguyên nhân, đánh giá diễn tiến và tiên lượng bệnh. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm nhiễm EBV trên mẫu máu toàn phần, tế bào lympho B và tế bào lympho T/NK bằng kỹ thuật Real-time PCR ở các bệnh lý huyết học lành tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả ghi nhận 35 bệnh nhân nhi nhiễm EBV ở 3 thể lần lượt là AEBV (n = 10), CAEBV (n = 10) và CEBV (n = 15) nhập viện từ tháng 12/2024 đến tháng 04/2025. Tình trạng nhiễm EBV ở từng dòng tế bào lympho được xác định bằng kỹ thuật Real-time PCR, đọc kết quả số copies dựa trên đường chuẩn. Kết quả: Nhóm AEBV gồm 3 bệnh lý (hội chứng thực bào máu, tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn và thiếu máu tán huyết), CAEBV gồm 2 bệnh lý (hội chứng thực bào máu, tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn) và CEBV gồm 4 bệnh lý (hội chứng thực bào máu, tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn, xuất huyết giảm tiểu cầu và thiếu máu tán huyết). EBV được ghi nhận có tải lượng copies trên dòng tế bào lympho B lẫn tế bào lympho T/NK và máu toàn phần. Nhóm CEBV, mối tương quan thuận rất mạnh giữa máu toàn phần so với tế bào lympho B (r = 0,99; p < 0,05) và tế bào lympho T/NK (r = 0,98; p < 0,05). Tải lượng EBV cao trong tế bào lympho T ở nhóm AEBV – CAEBV so với nhóm CEBV (p < 0,05). Kết luận: Nghiên cứu cho thấy vai trò của việc xác định tải lượng DNA EBV trên dòng tế bào nhiễm và hỗ trợ chẩn đoán ở các bệnh lý huyết học lành tính. Tuy nhiên, vấn đề này cần được chứng minh rõ hơn ở các đề tài mở rộng sau này.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Fournier B, Latour S. Immunity to EBV as revealed by immunodeficiencies. Curr Opin Immunol. 2021;72:107-115. doi:10.1016/j.coi. 2021.04.003
2. Sausen DG, Basith A, Muqeemuddin S. EBV and Lymphomagenesis. Cancers. 2023;15(7): 2133. doi:10.3390/cancers15072133
3. Jin J, Mao X, Zhang D. A differential diagnosis method for systemic CAEBV and the prospect of EBV-related immune cell markers via flow cytometry. Ann Med. 2024;56(1):2329136. doi:10.1080/07853890.2024.2329136
4. Fournier B, Boutboul D, Bruneau J, et al. Rapid identification and characterization of infected cells in blood during chronic active Epstein-Barr virus infection. J Exp Med. 2020; 217(11): e20192262. doi:10.1084/jem. 20192262
5. Fang X, Xu S, Cai K, et al. High Epstein-Barr Virus DNA Load in T Cells Predicts Hemophagocytic Lymphohistiocytosis. J Infect Dis. Published online February 27, 2025:jiaf065. doi:10.1093/infdis/jiaf065
6. Song Y, Wang J, Wang Y, et al. PD-1 blockade and lenalidomide combination therapy for chronic active Epstein-Barr virus infection. Clin Microbiol Infect Off Publ Eur Soc Clin Microbiol Infect Dis. 2023;29(6):796.e7-796.e13. doi:10.1016/j.cmi.2023.01.017
7. Haverkos B, Alpdogan O, Baiocchi R, et al. Targeted therapy with nanatinostat and valganciclovir in recurrent EBV-positive lymphoid malignancies: a phase 1b/2 study. Blood Adv. 2023;7(20): 6339-6350. doi:10.1182/blood advances.2023010330