KẾT QUẢ SỬ DỤNG PROPOFOL TRONG GÂY MÊ TĨNH MẠCH NỘI SOI ĐƯỜNG TIÊU HÓA TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT Y TẾ HẢI DƯƠNG

Nguyễn Thị Minh Thu1,, Vũ Thị Hân1
1 Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả kết quả sử dụng propofol trong gây mê tĩnh mạch (GMTM) nội soi đường tiêu hóa (NS ĐTH) tại bệnh viện trường đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương (BV trường ĐH KTYTHD) từ 8/2023 đến 8/2024. Đối tượng và phương pháp: Mô tả cắt ngang trên 471 bệnh nhân (BN) được GMTM propofol NS ĐTH. Điều kiện nội soi dạ dày (NS DD) là test Sedation-agitation (SA) “0” hoặc “1”. Điều kiện nội soi đại tràng (NS ĐT) là mất tri giác. Đánh giá liều lượng propofol, thời gian NS, sự biến thiên các chỉ số sinh tồn, các tác dụng không mong muốn, sự hài lòng của BN... Kết quả: Tác dụng của propofol trong GMTM NS ĐTH: tổng liều propofol sử dụng trong GMTM NS đồng thời dạ dày-đại tràng (DD-ĐT) (226,63 ± 49,18 mg) nhỏ hơn khi soi hoặc dạ dày (DD) hoặc đại tràng (ĐT) (328,72 ± 49,39 mg), với p < 0,05; liều propofol khởi mê NS DD (142,07 ± 28,56 mg) cao hơn liều khởi mê NS ĐT (117,45 ± 22,09 mg), với p <0,05; thời gian hồi tỉnh NS ĐT (2,18 ± 2,13 phút) và NS DD-ĐT (2,94 ± 3,01 phút) ngắn hơn NS DD (4,91 ± 2,59 phút), với p < 0,05; sự biến thiên về các chỉ số huyết áp, tần số tim, độ ẩm da, nước mắt (blood pressure, heart rate, sweating, tears -  PRST), SpO2 đều trong giới hạn bình thường; Khả năng thực hiện thủ thuật thuận lợi và rất thuận lợi là 94,9; bình thường 4,9%; không thuận lợi 0,2%; rất không thuận lợi 0%. Tác dụng không mong muốn trong GMTM NS ĐTH: không phản vệ hoặc sốt; có 14,6% BN đau tại chỗ tiêm theo trình tự vị trí mu tay, vị trí cổ tay, ít gặp ở vị trí khuỷu tay; chóng mặt (24,2%), cựa mình (23,8%), ho (10,2%), rướn (7,6%), nhịp tim >100 lần/phút (7,2%); tăng tiết (5,9%), HATB giảm trên 30% (5,3%), SpO2 giảm dưới 90% (4,5%); nấc (1,9%), ngáy (1,7%), HA hiệu số dưới 20mmHg (1,5%), ảo giác (1,3%), nhịp tim dưới 50 lần/phút (0,9%), HATB tăng trên 30% (0,6%), buồn nôn (0,4%), co thắt phế quản (0,2%), không gặp co thắt thanh quản. Kết luận: Phương pháp GMTM propofol NS ĐTH là thủ thuật an toàn, thuận lợi, tỉnh nhanh, ít tác dụng không mong muốn và tiết kiệm nếu bệnh nhân được soi đồng thời DD-ĐT.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Nguyễn Trung Cường và cộng sự (2009), “Đánh giá độ an toàn của propofol trong nội soi đường tiêu hóa”, tạp chí y học thành phố Hồ Chí Minh, Vol 13, 241-247.
2. Phạm Thị Hồng (2021), “Đánh giá hiệu quả gây mê bằng propofol trong nội soi đường tiêu hóa - bệnh viện E”, https://api.benhviene.com/data/ files/pham-thi-hong_tieng-viet_9addcc68_9cbd _4172_acdb_c00bc48ae434.pdf
3. Nguyễn Thị Minh Thu (2018), “¬¬¬¬¬Đặc điểm liều lượng Diprivan 1% trong gây mê tĩnh mạch nội soi dạ dày tại bệnh viện đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương”, tạp chí y học thực hành.
4. C. Forster, A. Vanhaudenhuyse et al (2018), “Intravenous infusion of lidocaine significantly reduces propofol dose for colonoscopy: a randomised placebo-controlled study”, British Journal of Anaesthesia, 121 (5): 1059e1064.
5. Masamichi Sato, Akira Horiuchi et al (2019), “Safety and Effectiveness of Nurse-Administered Propofol Sedation in Outpatients Undergoing Gastrointestinal Endoscopy”, Clinical Gastroenterology and Hepatology, Volume 17, Issue 6p1098-1104.
6. Singh H, Poluha W, Cheang M, Choptain N, Inegbu E, Baron K, Taback SP (2008), “Propofol for sedation during colonoscopy (Review)”, Cochrane Database of Systematic Reviews, Issue 4. Art. No.: CD006268.
7. Teng Li, Jin Zhang et al (2024), “Effect of propofol and ciprofol on the euphoric reaction in patients with painless gastroscopy: A prospective randomized controlled trial”, Heliyon, Volume 10, Issue 9e30378.
8. Xiaoli Liu, Qingyu Xiao† and Shaohui Zhuang (2023), “Comparison of propofol-esketamine versus propofol for anesthesia in gastroscopy: a double-blind, randomized controlled clinical trial”, Intensive Care Medicine and Anesthesiology, Volume 10 - 2023 | https://doi.org/10.3389/fmed.2023.1184709