ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở BỆNH NHÂN TỔN THƯƠNG ĐÁM RỐI THẦN KINH CÁNH TAY BẰNG THANG ĐIỂM SF-36 TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108

Nguyễn Thị Lệ Ngọc 1,, Trần Thị Ngọc Mai1, Đỗ Thị Thuỷ1, Nguyễn Việt Nam1
1 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả chất lượng cuộc sống (CLCS) theo SF-36 ở bệnh nhân tổn thương đám rối thần kinh cánh tay (ĐRTKCT) và đánh giá thay đổi trước–sau phẫu thuật chuyển thần kinh; xác định các yếu tố liên quan tới mức cải thiện. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu trên 82 bệnh nhân tổn thương ĐRTKCT điều trị tại Bệnh viện TWQĐ 108 (05/2023–12/2024). SF-36 (bản Việt hóa) được thu thập trước mổ và tại thời điểm ra viện. Phân tích so sánh cặp (paired t/Wilcoxon) theo 8 lĩnh vực và ba nhóm điểm tổng hợp (thể chất, tinh thần, chung). Các yếu tố liên quan đến chênh lệch điểm (Δ) được khảo sát bằng kiểm định indepent t-test/ANOVA. Kết quả: Nam chiếm 91,5%; tuổi trung bình 34,4±12,8 (17–65); liệt hoàn toàn 53,7%. Trước mổ, trong các lĩnh vực thể chất, hạn chế vai trò do sức khỏe thể chất và đau cơ thể thấp hơn rõ so với các lĩnh vực còn lại; hoạt động thể chất và sức khỏe chung ở mức trung bình. Ở các lĩnh vực tinh thần, hạn chế vai trò do vấn đề tinh thần thấp hơn các lĩnh vực khác trong cùng nhóm, trong khi năng lượng sống, trạng thái tâm lý và chức năng xã hội ở mức trung bình–khá. Điểm thể chất, tinh thần và CLCS chung tăng có ý nghĩa sau mổ: 39,0→45,3 (Δ=6,3±3,6), 57,1→61,9 (Δ=4,8±3,9) và 48,1→53,6 (Δ=5,5±2,6); đều p<0,001. Các lĩnh vực thể chất và hầu hết lĩnh vực tinh thần đều cải thiện rõ rệt, riêng hạn chế vai trò do vấn đề tinh thần không có sự thay đổi có ý nghĩa. Mức cải thiện về thể chất cao hơn ở bệnh nhân liệt không hoàn toàn so với liệt hoàn toàn; tuổi và giới không liên quan đáng kể. Kết luận: Phẫu thuật chuyển thần kinh điều trị tổn thương đám rối thần kinh cánh tay giúp cải thiện chất lượng cuộc sống rõ rệt cho người bệnh, và sự ảnh hưởng rõ rệt hơn về mặt thể chất.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Patel AA, Donegan D, Albert T. The 36-Item Short Form. JAAOS - J Am Acad Orthop Surg. 2007;15(2):126.
2. Estrella EP, Castillo-Carandang NT, Cordero CP, Juban NR. Quality of life of patients with traumatic brachial plexus injuries. Injury. 2021; 52(4): 855-861. doi:10.1016/j.injury.2020. 11.074
3. Zhang D, Dyer GSM, Garg R. Delayed Referral for Adult Traumatic Brachial Plexus Injuries. J Hand Surg. 2021; 46(10):929.e1-929.e7. doi:10. 1016/j.jhsa.2021.01.026
4. Kitajima I, Doi K, Hattori Y, Takka S, Estrella E. Evaluation of quality of life in brachial plexus injury patients after reconstructive surgery. Hand Surg Int J Devoted Hand Up Limb Surg Relat Res J Asia-Pac Fed Soc Surg Hand. 2006;11(3): 103-107. doi:10.1142/ S0218810406003279
5. Novak CB, Anastakis DJ, Beaton DE, Katz J. Patient-reported outcome after peripheral nerve injury. J Hand Surg. 2009;34(2):281-287. doi:10.1016/j.jhsa.2008.11.017
6. Thatte MR, Babhulkar S, Hiremath A. Brachial plexus injury in adults: Diagnosis and surgical treatment strategies. Ann Indian Acad Neurol. 2013;16(1):26. doi:10.4103/0972-2327.107686
7. Sakellariou VI, Badilas NK, Stavropoulos NA, et al. Treatment Options for Brachial Plexus Injuries. Int Sch Res Not. 2014;2014(1):314137. doi:10.1155/2014/314137