KHẢO SÁT THỰC TRẠNG NHIỄM NẤM DA, TÓC, MÓNG Ở NGƯỜI BỆNH ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN MẮT VÀ DA LIỄU HẢI DƯƠNG NĂM 2024

Nguyễn Thị Hồng Nhung1,, Phùng Thị Luyện1
1 Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Vi nấm ngoài da là bệnh lý phổ biến với các biểu hiện lâm sàng đa dạng, ảnh hưởng đến vùng da, tóc, móng. Bệnh không nguy hiểm đe dọa đến tính mạng nhưng ảnh hưởng thẩm mỹ, tâm lý và kéo dài điều trị. Soi tươi trực tiếp là phương pháp đơn giản, hiệu quả trong chẩn đoán. Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ nhiễm nấm da, tóc, móng ở bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Mắt và Da liễu tỉnh Hải Dương trong 6 tháng đầu năm 2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 1.966 người bệnh nghi nhiễm nấm, được chỉ định xét nghiệm soi tươi tại vị trí da, tóc, móng. Dữ liệu thu thập từ phiếu phỏng vấn và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả: Tỷ lệ nhiễm nấm là 34,7%. Trong đó, nấm da chiếm tỷ lệ cao nhất (36,25%), tập trung ở vùng bẹn, chân và thân mình; nấm móng chiếm 32,18%, thường gặp ở nhóm tuổi 20–39; nấm tóc thấp nhất (17,95%), phổ biến ở trẻ dưới 10 tuổi. Tỷ lệ nhiễm nấm da cao hơn ở người sống nông thôn (38,28%) và nhóm tuổi 40–59 (40,28%). Kết luận: Trong 6 tháng đầu năm 2024, tỷ lệ nhiễm nấm tại Bệnh viện Mắt và Da liễu Hải Dương là 34,7%, chủ yếu là nấm da (bẹn, chân), nấm tóc ở trẻ <10 tuổi và nấm móng ở người 20–39 tuổi. Tỷ lệ nhiễm có liên quan đến tuổi, giới và nơi cư trú.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Khodadadi H, Zomorodian K. Prevalence of superficial‐cutaneous fungal infections in Shiraz, Iran: A five‐year retrospective study (2015–2019). Journal of Clinical Laboratory Analysis. 2021;35(7):2–6.
2. Tôn Nữ Phương Anh và cộng sự. Nghiên cứu tình hình bệnh nấm ở da của các bệnh nhân đến xét nghiệm tại khoa Ký sinh trùng – Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Tạp chí Y Dược học – Trường Đại học Y Dược Huế. 2012;(10).
3. Nguyễn Hồ Phương Liên, Tăng Tuấn Hải, Nguyễn Hoàng Chương. Tỷ lệ nhiễm nấm ngoài da trên bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Da liễu TP. Hồ Chí Minh năm 2021. Tạp chí Y học TP.HCM. 2021;25(5).
4. Nguyễn Thái Dũng. Nghiên cứu một số đặc điểm và kết quả điều trị nấm da ở bệnh nhân đến khám và điều trị tại Trung tâm Chống phong – Da liễu Nghệ An, 2015–2016. Luận án Tiến sĩ Y học. Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương; 2017.
5. Nguyễn Hữu Sáu và cs (2019). Nghiên cứu tình hình nhiễm nấm da-niêm mạc ở người tại Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa từ năm 2015 đến năm 2018. Tạp chí y dược lâm sàng 108, tập 14-số 1/2019
6. Saham Ansari et al (2016). Molecular Characterization and In Vitro Antifungal Susceptibility of 316 Clinical Isolates of Dermatophytes in Iran, Epub 2015 Sep 14, 181(1-2):89-95.
7. Huilin Zhi, Hong Shen, Yan Zhong et al (2021). Tinea capitis in children: A single-institution retrospective review from 2011 to 2019, Mycoses, May 64(5):550-554
8. Gupta AK, Taborda VBA, Taborda PRO et al (2020). High prevalence of mixed infections in global onychomycosis. PLOS One. 2020;15(9):e0239648