THỰC TRẠNG ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA E.COLI PHÂN LẬP ĐƯỢC TẠI BỆNH VIỆN NHI HẢI DƯƠNG NĂM 2023

Nguyễn Thị Hồng Nhung1,, Hoàng Thị Hậu1, Phùng Thị Khánh Thảo1, Vũ Thanh Huyền2
1 Trường ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương
2 Bệnh viện Nhi Hải Dương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

E.coli được biết đến là tác nhân phổ biến của nhiều bệnh nhiễm trùng thường gặp trên lâm sàng như nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, hô hấp, nhiễm khuẩn huyết... nhưng lại có diễn biến nặng trên bệnh nhi và tỷ lệ đề kháng kháng sinh cao. Việc cung cấp thông tin về tình hình kháng kháng sinh của E.coli tại bệnh viện Nhi Hải Dương là rất cần thiết cho các bác sĩ lâm sàng. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ kháng kháng sinh, tỷ lệ sinh ESBL, tỷ lệ sinh carbapenem của E.coli phân lập được tại  bệnh viện Nhi Hải Dương từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 167 chủng E.coli, thu thập từ nuôi cấy trên mẫu bệnh phẩm của các bệnh nhi tại bệnh viện Nhi Hải Dương trong 6 tháng đầu năm 2023. Tiến hành kỹ thuật định danh vi khuẩn, kháng sinh đồ, thử nghiệm ESBL bằng khoang giấy đĩa đôi và thử nghiệm khả năng sinh Carbapenemase bằng kỹ thuật Hodge test. Kết quả: E.coli đề kháng cao nhất với ampicillin với tỉ lệ 90,18%, kế đến là trimethoprim-sulfamethoxazole với tỷ lệ 81,97% tuy nhiên E.coli còn nhạy cảm cao với các kháng sinh carbapenem (97%) và amikacin (89,97%). Tỷ lệ đa kháng kháng sinh là 77,25%. Tỷ lệ sinh ESBL và carbapenemase của E.coli lần lượt là 12,57% và 3,59 %. Nghiên cứu cũng cho thấy các chủng sinh ESBL và carbapenem có khả năng kháng lại kháng sinh cao hơn hẳn các chủng không sinh các enzym này. Kết luận: Các chủng E.coli trong nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ đề kháng cao với các kháng sinh ampicillin (90,18%); trimethoprim-sulfamethoxazole (81,97%) và tỷ lệ đa kháng tương đối cao. Tỷ lệ sinh ESBL và carbapenemase của E.coli ở mức thấp và có ảnh hưởng đến khả năng đề kháng kháng sinh của chủng vi khuẩn.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Y tế (2009), Báo cáo sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại 15 bệnh viện Việt Nam năm 2008 - 2009.
2. Tăng Xuân Hải và CS (2022), Nghiên cứu tính kháng kháng sinh của một số loài vi khuẩn gây bệnh phân lập được tại bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2021, Tạp chí y học Việt Nam, 512(1): tr 181-187
3. Lương Thị Hạnh và cs (2017), Khảo sát tình hình kháng kháng sinh carbapenem của vi khuẩn Escherichia coli phân lập từ mẫu bệnh phẩm tại Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015, Tạp chí y học Dự phòng, 27(11)
4. Vũ Bảo Trang và cs (2022), Tình hình đề kháng và sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn Escherichia coli và Klebsiella pneumoniae tại bệnh viện Thống Nhất, Tạp chí y học Việt Nam, 522(1): tr 72-78
5. CLSI, Clinical and Laboratory Standards Institute (2020). "Performance Standards for Antimicrobial Susceptibility Testing; Thirtieth Informational Supplement, M100- S30".
6. Hawser SP, Bouchillon SK, Hoban DJ, et al (2009), Emergence of high levels of extended-Spectrum-β-Lactamase-producing Gram-negative bacilli in the Asia-Pacific region: Data from the study for monitoring antimicrobial resistance trends (SMART) program, 2007. Antimicrobial Agentsand Chemotherapy; 53(8): 3280-3284.
7. WHO (2014). Antimicrobial resistance global report on surveillance 2014. Geneva: World Health Organization.