PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH TRÊN BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI MỘT CƠ SỞ Y TẾ MIỀN NAM NĂM 2025

Hồ Thúy Hằng1,, Trần Công Luận2, Nguyễn Hồ Thế Phương3, Hồ Minh Chánh1, Hồ Minh Thắng1, Nguyễn Thị Ngọc Mai4
1 Trung tâm Y tế Giồng Riềng
2 Trường Đại học Tây Đô
3 Trung tâm Y tế khu vực Tam Bình
4 Đại học Chulalongkorn

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mở đầu: Bệnh thận mạn tính là nguyên nhân tử vong hàng đầu và ngày càng gia tăng tỷ lệ tử vong trong hai thập kỷ qua, ảnh hưởng đến hơn 10% dân số toàn cầu. Nghiên cứu này nhằm phân tích tình hình sử dụng kháng sinh và đánh giá tính hợp lý trong việc điều trị bệnh thận mạn tại một cơ sở y tế miền nam năm 2025. Mục tiêu nghiên cứu: 1) Mô tả tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân bệnh thận mạn điều trị nội trú. 2) Đánh giá tính hợp lý trong sử dụng thuốc kháng sinh và xác định một số yếu tố liên quan về sử dụng thuốc trên bệnh thận mạn điều trị nội trú. Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, hồi cứu số liệu trên 115 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, chẩn đoán mắc bệnh thận mạn và có sử dụng kháng sinh tại một cơ sở y tế miền nam trong thời gian từ 01/01/2025 đến 30/06/2025. Kết quả: Bệnh nhân thận mạn có độ tuổi trung bình 66,1 ± 14,2 tuổi, chủ yếu mắc đái tháo đường (27,83%) và suy tim (21,74%). Ceftriaxon là kháng sinh phổ biến nhất (69,57%), với thời gian điều trị chủ yếu từ 8-14 ngày (55,65%). Phác đồ đơn độc chiếm 87,83%, 95,65% bệnh nhân cải thiện lâm sàng, cho thấy hiệu chỉnh liều kháng sinh quan trọng trong giảm nguy cơ chạy thận nhân tạo. Kết luận – Kiến nghị: Tỷ lệ hiệu chỉnh liều kháng sinh theo khuyến cáo trong điều trị bệnh thận mạn còn thấp. Các kiến nghị bao gồm: 1) Tăng cường đào tạo cho bác sĩ và dược sĩ về đánh giá chức năng thận và điều chỉnh liều. 2) Xây dựng quy trình chuẩn trong kê đơn và hiệu chỉnh liều. 3) Tăng cường theo dõi chức năng thận định kỳ. 4) Khuyến khích sử dụng phác đồ đơn trị liệu. 5) Nâng cao nhận thức bệnh nhân về sử dụng thuốc đúng liều và tuân thủ điều trị.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

N. F. Aldardeer, M. M. Alshreef, E. A. Alharbi, A. K. Aljabri, M. H. Aljawadi, T. A. Almangour, et al. (2024) "Early Versus Late Antipseudomonal β-Lactam Antibiotic Dose Adjustment in Critically Ill Sepsis Patients With Acute Kidney Injury: A Prospective Observational Cohort Study". Open Forum Infect Dis, 11 (3), ofae059.
2. E. Copari-Vargas, L. E. Copari-Vargas, T. L. Copari-Vargas, L. F. Domínguez-Valdez, E. Copari-Jimenez, J. G. Urquizo-Ayala (2025) "Bacteriological Profile and Antibiotic Susceptibility in Patients With Diabetic Foot Infections". Cureus, 17 (4), e82809.
3. J. Doshi, Y. P. Ngoc, T. T. Ma, L. T. Duong, V. T. T. Pham, V. G. Vu, et al. (2025) "The effect of antimicrobial stewardship interventions upon antimicrobial consumption and appropriateness in Vietnamese district hospitals: a cluster randomised trial". Lancet Reg Health West Pac, 60, 101620.
4. Kovesdy C. P. (2022) "Epidemiology of chronic kidney disease: an update 2022". Kidney Int Suppl (2011), 12 (1), 7-11.
5. National Institute of Diabetes and Digestive and Kidney Diseases (2023). "What is Kidney Failure?". National Insututes of Health,
6. T. T. Nguyen, T. X. Nguyen, T. T. H. Nguyen, T. N. Nguyen, H. T. T. Nguyen, H. T. T. Nguyen, et al. (2022) "Symptom Burden among Hospitalised Older Patients with Heart Failure in Hanoi, Vietnam". Int J Environ Res Public Health, 19 (20)
7. T. T. N. Nguyen, S. Y. Liang, C. Y. Liu, C. H. Chien (2022) "Self-care self-efficacy and depression associated with quality of life among patients undergoing hemodialysis in Vietnam". PLoS One, 17 (6), e0270100.
8. J. A. Roberts, M. H. Abdul-Aziz, J. Lipman, J. W. Mouton, A. A. Vinks, T. W. Felton, et al. (2014) "Individualised antibiotic dosing for patients who are critically ill: challenges and potential solutions". Lancet Infect Dis, 14 (6), 498-509.