KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN VIÊM BỜ MI

Đoàn Kim Thành1, Đinh Hoàng Yến2, Huỳnh Võ Mai Quyên2, Dương Nguyễn Hồng Hải1,
1 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
2 Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân viêm bờ mi. Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca. 168 mắt của 87 bệnh nhân chẩn đoán viêm bờ mi tại bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025. Quy trình nghiên cứu được tiến hành: Khám, sàng lọc bệnh nhân vào nghiên cứu. Thu thập các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng bằng bảng câu hỏi, khám lâm sàng và cận lâm sàng qua sinh hiển vi, máy OCULUS Keratograph® 5M. Phân loại viêm bờ mi theo giải phẫu (viêm bờ mi trước, sau, hỗn hợp) và chức năng (viêm bờ mi nhẹ, trung bình, nặng). Viêm bờ mi sau và hỗn hợp mức độ nặng được nặn tuyến đánh giá khả năng nặn tuyến (MGE score). Số liệu được thu thập và nghiên cứu đánh giá yếu tố liên quan. Kết quả: Tuổi trung bình 62,1±11,8 tuổi. Nữ giới chiếm cao hơn (79,3%). Đa số là thị lực tốt (81,2%). Viêm bờ mi thường gặp triệu chứng: cộm vướng, chảy nước mắt, giãn mạch, cương tụ bờ mi và tắc lỗ đổ tuyến. Trong đó, triệu chứng cơ năng và thực thể có tương quan mạnh nhất với tình trạng viêm bờ mi nặng là cộm vướng (p<0,001; OR=23,2) và tắc lỗ đổ tuyến meibomius (p=0,028, OR=2,2). OSDI trung bình 36,6 ±13,3; đa số là nặng (64,9%). Chất lượng chất tiết tuyến (MQ score) trung bình 1,16 ±0,06. TBUT trung bình 5,0±1,7 giây với TBUT ≤5 giây chiếm chủ yếu (66,1%). Meiboscore trung bình 2,82 ± 0,1. MGE trung bình 1,8 ± 0,7. Trong nghiên cứu ghi nhận đa số là viêm bờ mi hỗn hợp (63,1%) và viêm bờ mi nặng (64,9%). Kết luận: Nghiên cứu ghi nhận đa số là viêm bờ mi hỗn hợp và bệnh mức độ nặng. Tình trạng khô mắt nặng theo OSDI là chủ yếu. Thay đổi cấu trúc, chức năng tuyến meibomius rõ rệt.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Lin A, Ahmad S, Amescua G, et al. Blepharitis Preferred Practice Pattern(R). Ophthalmology. Apr 2024;131(4):P50-P86. doi:10.1016/j.ophtha.2023. 12.036
2. Lemp MA, Nichols KK. Blepharitis in the United States 2009: a survey-based perspective on prevalence and treatment. Ocul Surf. Apr 2009;7(2 Suppl): S1-S14. doi:10.1016/s1542-0124(12)70620-1
3. Nelson JD, Shimazaki J, Benitez-del-Castillo JM, et al. The international workshop on meibomian gland dysfunction: report of the definition and classification subcommittee. Invest Ophthalmol Vis Sci. Mar 2011;52(4):1930-7. doi:10.1167/iovs.10-6997b
4. Nguyễn Thị Hưng, Nguyễn Tiến Đạt, Trần Thúy Liên, Vũ Văn Trường. Research on clinical characteristics and related factors of Blepharitis at Duc Giang General Hospital in 20200.
5. Sabeti S, Kheirkhah A, Yin J, Dana R. Management of meibomian gland dysfunction: a review. Surv Ophthalmol. Mar-Apr 2020;65(2): 205-217. doi:10.1016/j.survophthal.2019.08.007
6. Doan S, Zagórski Z, Palmares J, et al. Eyelid disorders in ophthalmology practice: results from a large international epidemiological study in eleven countries. Ophthalmology and Therapy. 2020;9(3):597-608.
7. Trần Lê Phương Loan, Trần Khánh Sâm, Vũ Hoàng Việt Chi. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng viêm bờ mi kết giác mạc tại bệnh viện Mắt Trung Ương. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023;532(1B)
8. Wei Z, Liang J, Cao K, et al. A multi-center study evaluating the correlation between meibomian gland dysfunction and depressive symptoms. Sci Rep. Jan 10 2022;12(1):443. doi:10.1038/s41598-021-04167-x
9. Nair RVR, Jacob S, Praveena KK, Latha NV, Vishnupriya M. A study to assess meibomian gland morphology using meibography in posterior blepharitis patients and normal population: A hospital-based observational study. Kerala Journal of Ophthalmology. 2023;35(1):42-48. doi:10. 4103/kjo.kjo_135_21
10. Mathers WD, Shields WJ, Sachdev MS, Petroll WM, Jester JV. Meibomian gland dysfunction in chronic blepharitis. Cornea. 1991;10(4):277-285.