ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH NỘI SOI, MÔ BỆNH HỌC VÀ KẾT QUẢ CẮT POLYP ĐẠI TRỰC TRÀNG QUA NỘI SOI BẰNG MÁY CẮT ĐỐT CAO TẦN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TUYÊN QUANG

Hứa Văn Đường1,, Dương Hồng Thái2
1 Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang
2 Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Polyp đại trực tràng (PLĐTT) là tổn thương tiền ung thư phổ biến, và việc cắt bỏ qua nội soi là phương pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa tiến triển thành ung thư đại trực tràng. Kỹ thuật cắt bằng thòng lọng điện sử dụng máy cắt đốt cao tần được xem là tiêu chuẩn trong thực hành lâm sàng. Mục tiêu: Mô tả hình ảnh nội soi, mô bệnh học và đánh giá kết quả cắt polyp đại trực tràng (PLĐTT) qua nội soi bằng máy cắt đốt cao tần tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành từ tháng 5/2024 đến tháng 12/2025 trên 93 bệnh nhân được chẩn đoán có PLĐTT, với tổng số 249 polyp được can thiệp cắt bằng máy cắt đốt cao tần. Thu thập các đặc điểm về lâm sàng, hình ảnh nội soi (vị trí, kích thước, hình dạng), đặc điểm mô bệnh học (phân loại WHO, mức độ loạn sản) và kết quả điều trị. Sử dụng test khi bình phương (χ²) để so sánh các biến định tính. Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 59,69 ± 14,0 tuổi, tỷ lệ nam giới chiếm 73,1%. Trong 249 polyp, 53,8% ở đại tràng trái và 46,2% ở đại tràng phải. Đa số polyp có kích thước < 10 mm (71,5%) và hình thái dẹt chiếm tỷ lệ cao nhất (39,4%). Kết quả mô bệnh học (n=117) cho thấy polyp u tuyến chiếm 86,3%, trong đó 8,5% là loạn sản mức độ nặng. Tỷ lệ thành công chung (kết quả tốt và đạt) là 99,2%. Có mối liên quan ý nghĩa thống kê chặt chẽ giữa kích thước và kết quả điều trị (p < 0,001); nhóm polyp ≥ 10 mm có tỷ lệ kết quả chưa tốt là 70,4%, so với 9,0% ở nhóm < 10mm. Kết luận: Kỹ thuật cắt polyp bằng máy cắt đốt cao tần an toàn và hiệu quả với tỷ lệ thành công cao. Kích thước polyp ≥ 10mm là yếu tố liên quan chặt chẽ đến kết quả điều trị chưa tốt.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Trần Thanh Hà và các cộng sự. (2022), "Nghiên cứu hình ảnh nội soi, mô bệnh học của polyp đại trực tràng kích thước trên 10mm", Tạp chí Y học Việt Nam, 517(2).
2. Đỗ Thị Oanh (2017), Đặc điểm hình ảnh nội soi, mô bệnh học và kết quả cắt polyp đại trực tràng qua nội soi bằng máy cắt đốt cao tần tại bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên, Luận văn chuyên khoa cấp II, Đại học Y dược Thái Nguyên.
3. Nguyễn Ngọc Tuấn và các cộng sự. (2016), "Nội soi cắt polyp đại trực tràng tại Bệnh viện Bình Dân (1/1/2010 → 31/12/2014)", Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Phụ bản tập 20(2), tr. 291-297.
4. Anderloni A., Jovani M. and Hassan C. (2014), "Advances, problems, and complications of polypectomy", Clin Exp Gastroenterol, 7, pp. 285 - 96.
5. Gupta S., et al. (2020), "Recommendations for Follow-Up After Colonoscopy and Polypectomy: A Consensus Update by the US Multi-Society Task Force on Colorectal Cancer", Gastroenterology, 158(4), pp. 1131-1153 e5.
6. Jagtap Nitin, et al. (2021), "Detection of colon polyps in India—a large retrospective cohort study (DoCPIr)", Journal of Digestive Endoscopy, 12(02), pp. 063-066.
7. Le Quang Nhan, et al. (2025), "Colorectal Neoplasia in Vietnamese Patients Under 50 Years of Age: A Cross-Sectional Study", The Korean Journal of Gastroenterology, 85(2), pp. 185-193.
8. Li X., et al. (2024), "Prevalence of diverse colorectal polyps and risk factors for colorectal carcinoma in situ and neoplastic polyps", J Transl Med, 22(1), pp. 361.
9. Oines M., Helsingen L. M. and Bretthauer M. (2017), "Epidemiology and risk factors of colorectal polyps", Best Pract Res Clin Gastroenterol, 31(4), pp. 419 - 424.
10. Valian H. et al. (2023), "Trend of the polyp and adenoma detection rate by sex and age in asymptomatic average-risk and high-risk individuals undergoing screening colonoscopy, 2012-2019", Prev Med Rep, 36, pp. 102468.