NHẬN XÉT TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI VÀ MỐI LIÊN QUAN CỦA TỒN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI VỚI ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER MẠCH MÁU TẠI KHOA TIM MẠCH - LÃO HỌC, BỆNH VIỆN ĐA KHOA HOÀI ĐỨC NĂM 2025

Đoàn Thịnh Trường1, Đoàn Thị Lan Anh1,, Trần Khánh Ly1, Nguyễn Vương Đạo1
1 Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả tổn thương động mạch chi dưới (ĐMCD) và tìm hiểu mối liên quan giữa tổn thương ĐMCD với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân Đái tháo đường týp 2 bằng siêu âm Doppler mạch máu tại Khoa Tim mạch - Lão học, Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức năm 2025. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 40 bệnh nhân (BN) mắc đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2 có tổn thương ĐMCD điều trị tại Khoa Tim mạch - Lão học, Bệnh viện Đa khoa huyện Hoài Đức từ 01/03/2025 - 31/08/2025. Kết quả: Trong số 40 BN tham gia nghiên cứu, có 19 BN nam (47.5%) và 21 BN nữ (52.5%); Tuổi trung bình là 59,4. BN có thời gian mắc bệnh dưới 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (50%). Đa số BN có tổn thương ĐMCD có glucose máu >7 mmol/l và HbA1C ≥ 6.5%. Tỷ lệ BN nam và nữ có tổn thương ĐMCD lần lượt là 100% và 95,3%. 100% BN có BMI < 18,5 và BMI > 25 đều ghi nhận tổn thương ĐMCD; trong khi đó, 95,3% BN có BMI trong khoảng 18,5–25 bị tổn thương ĐMCD. Theo phân độ bệnh ĐMCD của Fontaine, 70% BN ở giai đoạn 1 (không triệu chứng), 25% ở giai đoạn 2 (đau cách hồi), và 5% ở giai đoạn 3 (đau khi nghỉ ngơi); không có BN nào ở giai đoạn 4 (loét hoặc hoại tử). Phần lớn BN có tổn thương ĐMCD có thời gian mắc bệnh trên 10 năm. Kết luận: Tổn thương động mạch chi dưới xuất hiện ở tất cả các nhóm bệnh nhân, bao gồm thiếu cân, bình thường và thừa cân/béo phì. Bệnh lý này làm giảm tưới máu chi, dẫn đến các triệu chứng như tê bì chân và đau cách hồi. Nghiên cứu không ghi nhận mối liên quan đáng kể giữa triệu chứng cơ năng, chỉ số BMI hoặc giới tính với mức độ tổn thương động mạch chi dưới. Tỷ lệ tổn thương có xu hướng tăng theo thời gian mắc bệnh.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Đỗ Châu Lan Hương và cộng sự (2015), “Khảo sát giá trị holter điện tâm đồ 24 giờ trong phát hiện rối loạn nhịp tim tại BVTM An Giang 2-8/2011”, [Trực tuyến] < http://benhvientimmach angiang.vn/DesktopModules/NEWS/DinhKem/82_holter-ECG-Laokhoa.pdf >, xem 03/03/2024.
2. Trần Thị Mỹ Liên, Văn Thị Ngọc Uyên và Lê Hữu Đồng (2014). Nghiên cứu rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân tăng huyết áp bằng holter điện tim liên tục 24 giờ tại khoa tim mạch bệnh viện Thống Nhất TP HCM. [Trực tuyến] , xem 03/03/2024.
3. Đoàn Thịnh Trường (2021). Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ NT-proBNP huyết tương và rối loạn nhịp tim, biến thiên nhịp tim ở bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính có suy tim. Luận án tiến sỹ y học, Học viện Quân Y, 26-27.
4. Trần Hoàng Dương, Lê Thị Thùy Linh (2020). Mô tả rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân suy tim mạn tính có chức năng tâm thu thất trái giảm bẳng Holter điện tâm đồ. Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình. Truy vấn từ https://hoabinhhospital.org.vn.
5. Bellhassen B., Viskin S. (1993). Idiopathic ventricular tarchycardia and fibrillation. J Cardiovas Electrophysiol, 356-368.
6. Romhilt D.W., Bove K.E., et al (1969). A critical appraisal of the electrocardiographic criteria for the diagnosis of left ventricular hypertrophy. Circulation, 40: 185, PubMed ID: 4240354.
7. M. Sokolow and T. P. Lyon (1949). The ventricular complex in left ventricular hypertrophy as obtained by unipolar precordial and limb leads. Am. Heart J, 37: 161–186.
8. Devereux R.B., Phillips M.C., Casale P.N., Eisenberg R.R., Kligfield P. Geometric (1983). Determinants of electrocardiographic left ventricular hypertrophy. Circulation, 67: 907–911.