ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG VÀ MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ VITAMIN D, CALCI, PHOSPHO HUYẾT THANH VỚI CO GIẬT DO SỐT ĐƠN THUẦN Ở TRẺ EM

Nguyễn Ngọc Sáng1,, Trần Huy Duy1, Bùi Mẫn Nguyên2, Lê Ngọc Anh2, Nguyễn Bích Vân2
1 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
2 Bệnh viện Nhi Hải Phòng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và phân tích mối liên quan giữa nồng độ vitamin D, calci, phospho huyết thanh với co giật do sốt (CGDS) đơn thuần ở trẻ em. Đối tượng: Gồm 472 bệnh nhi co giật do sốt cao đơn thuần và 80 bệnh nhi có sốt cao nhưng không co giật điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhi Hải Phòng từ ngày 01/09/2023 đến ngày 31/08/2025. Phương pháp: Mô tả cắt ngang và nghiên cứu bệnh chứng. Kết quả: Co giật do sốt đơn thuần thường gặp ở trẻ từ 6 tháng đến 3 tuổi, với tuổi trung bình là 24,35 ± 12,12 tháng. Tỷ lệ nam/nữ là 1,59/1. Khi xảy ra cơn co giật, phần lớn bệnh nhi có thân nhiệt từ 39 đến 40°C. Cơn co giật thường xuất hiện sớm, thời gian co giật thường ngắn. Nguyên nhân chủ yếu là nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp. Phần lớn bệnh nhi có tăng số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi, bạch cầu trung tính và nồng độ CRP huyết thanh. Nồng độ vitamin D huyết thanh ở nhóm CGDS thấp hơn rõ rệt so với nhóm bệnh nhi có sốt nhưng không co giật. Bệnh nhi nồng độ vitamin D huyết thanh thấp có nguy cơ bị CGDS cao gấp 9,02 lần. Nồng độ calci huyết thanh trung bình thấp hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhi CGDS nhưng chưa có mối liên quan giữa mức độ thiếu hụt calci và CGDS. Nồng độ phospho huyết thanh trung bình thấp hơn ở nhóm bệnh nhi mắc CGDS nhưng chưa có ý nghĩa thống kê. Kết luận: CGDS đơn thuần thường gặp ở trẻ nam, lứa tuổi nhỏ, với nguyên nhân sốt chủ yếu do nhiễm khuẩn đường hô hấp. Thiếu hụt vitamin D huyết thanh là yếu tố nguy cơ quan trọng của CGDS.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Gellis SS (2007). The yearbook of Paediatrics. Yearbook medical publishers. 302–307.
2. Nguyễn Mai Phương, Nguyễn Thị Nhật Hoà, Phạm Văn Thức và cộng sự. (2023). Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và kết quả điều trị co giật do sốt đơn thuần tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2021-2022. Tạp chí y học Việt Nam, 526(2).
3. Bhat J.A., Bhat T.A., Sheikh S.A. et al. (2020). Status of 25-hydroxy vitamin D level in simple febrile seizures and its correlation with recurrence of seizures. Avicenna J Med, 10(1), 6–9.
4. Kalueff A.V., Minasyan A., and Tuohimaa P. (2005). Anticonvulsant effects of 1,25-dihydroxyvitamin D in chemically induced seizures in mice. Brain Res Bull, 67(1–2), 156–160.
5. Chen R., Li S., Wang X. et al. (2020). Analysis of cytokines and trace elements in children with febrile seizures. Transl Pediatr, 9(6), 809–817.
6. Nguyễn Văn Bắc., Nguyễn Thị Xuân Hương., Nguyễn Bích Hoàng. và cộng sự. (2022). Đặc điểm và một số yếu tố nguy cơ co giật do sốt ở trẻ em tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên. Tạp chí Y học Việt Nam, 512(2), 139-140
7. Bùi Thu Phương và Phạm Thị Thuận (2022). Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và nguyên nhân co giật do sốt ở trẻ em tại Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108, 15(5), 96-98.
8. Lê Văn Minh, Lê Hoàng Mỷ và Nguyễn Minh Phương (2024). Một số yếu tố liên quan đến co giật do sốt phức tạp ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 73, 82-87