TUÂN THỦ THUỐC CỦA BỆNH NHÂN PARKINSON ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Nguyễn Thị Hoài Thu1,, Dương Thị Nhài1, Vương Trương Trọng1, Vương Thị Thúy1
1 Bệnh viện Đa khoa Hà Đông

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả tuân thủ thuốc của người bệnh Parkinson điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2025 và một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương phápNgười bệnh đến điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Hà Đông, được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và chẩn đoán bệnh Parkinson trong năm 2025 điều trị liên tục trên 3 tháng  tại phòng khám chuyên khoa Thần Kinh – Bệnh viện đa khoa Hà Đông.Phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Kết luận: Qua nghiên cứu 80 người bệnh Parkinson  điều trị ngoại  trú tại bệnh viện Hà Đông  chúng tôi  rút ra một số kết luận sau: - Người bệnh Parkinson có độ tuổi dưới 70 tuổi chiếm đa số với tỷ lệ  77.5%. - Tỷ lệ quản lý người bệnh Parkinson ngoại trú tốt đạt 73.75%. Tỷ lệ NB Parkinson được khai thác về tiền sử dụng thuốc đạt 98.1%, tiền sử bệnh đạt 99,4%. Tỷ lệ NB Parkinson được giải thích về tác dụng của thuốc sắp uống là 78.8%. Trong đó có 55.6% NB đánh giá là mức độ giải thích đầy đủ và 92.1% NB đánh giá là dễ hiểu và có thể thực hiện được. - Tỷ lệ tuân thủ thuốc đúng đạt 35%. Tỷ lệ NB parkinson bỏ bớt thuốc, không uống đủ lượng thuốc được chỉ định là 20%. Tỷ lệ NB parkinson có xảy ra tình trạng quên thuốc là 65%. - Có 6 yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với việc tuân thủ thuốc của người bệnh Parkinson bao gồm: Nhóm tuổi càng cao, tỷ lệ tuân thủ thuốc càng giảm. Người bệnh Parkinson tự sinh hoạt độc lập được có tỷ lệ tuân thủ thuốc cao gấp 3.071 lần so với NB cần sự chăm sóc. Người bệnh Parkinson có kiến thức đúng về bệnh và vấn đề uống thuốc có tỷ lệ tuân thủ thuốc cao gấp 2.214 lần so với NB không có kiến thức đúng. Người bệnh Parkinson có đơn thuốc điều trị dùng từ 1-2 loại thuốc có tỷ lệ tuân thủ thuốc cao hơn 2.409 lần so với NB dùng trên 2 loại thuốc. Người bệnh Parkinson có tuân thủ thuốc tốt sẽ có khả năng vận động hiệu quả gấp 3.388 lần so với NB chưa tuân thủ thuốc. Các mối liên quan đều có ý nghĩa thống kê (p<0,05).

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Văn Chương, Nhữ Đình Sơn (1999), “Đặc điểm lâm sàng và điều trị qua 60 bệnh nhân mắc bệnh Parkinson điều trị nội trú tại khoa Thần kinh - Viện quân y 103”, Công trình Y học Quân sự
2. Nguyễn Hải Đăng (2020), “Bệnh Parkinson: cách quản lý và hướng dẫn điều trị”, Sở Y tế tỉnh Bạc Liêu.
3. Jamie M. SHEARD and Susan A.S.H (2014), “Current practice in nutrition assessment for the management of Parkinson’s disease in Australia and Canada”, Nutrition & Dietetics, 71, pp. 92-99.
4. Daniel D. Trương, Lê Đức Hinh, Nguyễn Thi Hùng (2004), “Bệnh Parkinson”, Nhà Xuất Bản Y học
5. Dương Vũ Hạnh (1994), “Bệnh Parkinson”, Lâm sàng Thần kinh, Nhà xuất bản y học.
6. "Parkinson's Disease" (2016), National Institute of Neurological disorders and stroke, Health information, Archived from the original on 4 January 2017, Retrieved 18 July 2016.
7. Doãn Thị Huyền (2022) Luận văn thạc sỹ sức khỏe, “Tuân thủ thuốc của bệnh nhân Parkinson liên quan đến hoạt động quản lý người bệnh ngoại trú tại bệnh viện Bạch Mai và một số yếu tố liên quan”
8. de Lau L.M., Breteler M.M. (2006), "Epidemiology of Parkinson's disease", The Lancet, Neurology, 5(6), pp. 525-35.