HIỆU QUẢ GÂY MÊ TĨNH MẠCH CHO NỘI SOI ĐƯỜNG TIÊU HOÁ BẰNG PROPOFOL PHỐI HỢP VỚI FENTANYL

Nguyễn Bá Thanh1,, Phạm Thị Lan2
1 Trung tâm Y tế Thanh Thủy
2 Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: So sánh hiệu quả vô cảm và tính an toàn của phác đồ propofol phối hợp fentanyl (P-F) với propofol đơn thuần (P) trong gây mê tĩnh mạch cho nội soi đường tiêu hóa. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có đối chứng được thực hiện trên 230 bệnh nhân (BN) tuổi từ 18-60, phân loại sức khỏe ASA I hoặc II, có chỉ định nội soi đường tiêu hóa. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào 2 nhóm (n=115). Nhóm P được tiêm tĩnh mạch propofol liều khởi mê 1,5 mg/kg. Nhóm P-F được tiêm tĩnh mạch fentanyl 1 mcg/kg, sau đó tiêm propofol 1,5 mg/kg. Cả hai nhóm được duy trì mê bằng các liều propofol 0,5 mg/kg lặp lại khi có dấu hiệu tỉnh. Các chỉ số chính được đánh giá bao gồm thời gian khởi mê, tổng liều propofol, số lần thức tỉnh, các biến cố về huyết động, hô hấp và mức độ hài lòng của bệnh nhân. Kết quả: So với nhóm P, nhóm P-F có thời gian khởi mê ngắn hơn đáng kể (2,0 ± 0,40 phút so với 2,5 ± 0,45 phút, p < 0,001). Tổng liều propofol trung bình sử dụng ở nhóm P-F thấp hơn 14% (177,6 ± 42,5 mg) so với nhóm P (206,6 ± 54,4 mg), (p < 0,001). Số lần thức tỉnh cần can thiệp ở nhóm P-F cũng ít hơn (2,5 ± 1,0 lần) so với nhóm P (3,6 ± 1,3 lần), (p < 0,001). Về tính an toàn, tỷ lệ BN bị tụt huyết áp ở nhóm P cao hơn rõ rệt so với nhóm P-F (p = 0,03). Chất lượng hồi tỉnh ở nhóm P-F tốt hơn, với tỷ lệ buồn nôn (p = 0,006), chóng mặt (p = 0,014) và mệt mỏi (p < 0,001) đều thấp hơn đáng kể so với nhóm P. Tỷ lệ BN đánh giá "rất hài lòng" ở nhóm P-F cao hơn nhóm P (p = 0,001). Kết luận: Phác đồ propofol kết hợp fentanyl (1 mcg/kg) cho thấy hiệu quả vô cảm vượt trội so với phác đồ propofol đơn thuần trong nội soi tiêu hóa ở bệnh nhân ASA I-II. Phác đồ P-F giúp khởi mê nhanh hơn, giảm 14% liều propofol, ổn định huyết động tốt hơn (ít tụt huyết áp hơn), và cải thiện đáng kể chất lượng hồi tỉnh cũng như sự hài lòng của bệnh nhân.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Nguyễn Trung Cường, Lê Thị Ngọc Cang và Trịnh Minh Đức (2008), "Đánh giá độ an toàn của propofol trong nội soi đường tiêu hóa.", Tạp chí Y Học TP Hồ Chí Minh, 13(6), tr. 241-247.
2. Lê Văn Long, Lê Thị Lệ Hồng và Phạm Thị Minh Thư (2021), "Đánh giá hiệu quả an thần của Propofol phối hợp với Fentanyl trong nội soi đại tràng", Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y dược Huế, 5(11).
3. Phạm Thị Minh Thư và các cộng sự. (2023), "Đánh giá hiệu quả an thần của propofol đơn thuần và kết hợp Fentanyl hoặc Midazolam trong siêu âm qua nội soi đường tiêu hóa trên", Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y dược Huế, 2(13).
4. Chang Jie, Yang Chun (2021), "Propofol Combined with Fentanyl Is Superior to Propofol Alone in Sedation Protocols for Painless Gastrointestinal Endoscopy", Journal of Nanomaterials, 2021, pp. 1-7.
5. De Almeida, et al (2019), "Propofol vs traditional sedatives for sedation in endoscopy: A systematic review and meta-analysis.", World J Gastrointest Endosc 11(12), pp. 573-588.
6. Liu L., et al. (2025), "Efficacy and Safety of Ciprofol Alone versus Ciprofol with Fentanyl for Upper Gastrointestinal Endoscopy: A Randomized, Double-Blind, Controlled Trial", Drug Des Devel Ther, 19, pp. 5231-5241.
7. Moon S. H. (2014), "Sedation regimens for gastrointestinal endoscopy", Clin Endosc, 47(2), pp. 135-40.
8. Novotny David, et al. (2025), "Impact of opioid addition on procedural conditions during colonoscopy: a randomized trial comparing propofol-based sedation protocols", Clin Endosc, 58(5), pp. 722-730.
9. Radaelli F., et al (2008), "Technical performance of colonoscopy: the key role of sedation/analgesia and other quality indicators", Am J Gastroenterol, 103(5), pp. 1122-30.
10. Sahinovic MM, Struys MMRF and Absalom AR (2018), "Clinical Pharmacokinetics and Pharmacodynamics of Propofol", Clin Pharmacokinet, 57(12), pp. 1539-1558.