ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHĂM SÓC BUỒNG TIÊM DƯỚI DA CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU ĐÀ NẴNG

Đặng Thị Huệ1,, Trần Thị Bích Hường2, Phan Vĩnh Sinh2
1 Trường Đại học Kỹ Thuật Y - Dược Đà Nẵng
2 Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Buồng tiêm dưới da (BTDD) ngày càng được sử dụng phổ biến trong điều trị người bệnh ung thư nhằm giảm thiểu các biến chứng liên quan đến tiêm truyền tĩnh mạch ngoại vi. Điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và sử dụng BTDD, đòi hỏi kiến thức đầy đủ để đảm bảo hiệu quả điều trị và giảm nguy cơ biến chứng. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng chăm sóc BTDD bao gồm đánh giá kiến thức của điều dưỡng về chăm sóc BTDD và xác định các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 120 điều dưỡng tại 10 khoa lâm sàng của Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng từ tháng 3/2023 đến tháng 9/2023. Đối tượng được chọn ngẫu nhiên, đáp ứng tiêu chuẩn có trình độ từ cao đẳng trở lên và đồng ý tham gia. Bộ câu hỏi trắc nghiệm 30 câu được sử dụng để đánh giá kiến thức về BTDD, bao gồm kiến thức chung, kỹ thuật chăm sóc, và nguy cơ biến chứng. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0, sử dụng các phép kiểm T-test và ANOVA với giá trị p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê. Kết quả: Tỷ lệ điều dưỡng (ĐD) có kiến thức về chăm sóc BTDD ở mức tốt, khá, và trung bình-yếu lần lượt là 1,7%, 30%, và 68,3%. Kiến thức về dung dịch sát khuẩn, chỉ định, và chống chỉ định của BTDD đạt tỷ lệ trả lời đúng cao (56,7%-74,2%), nhưng chỉ 5,8% ĐD biết thời gian lưu kim tối đa. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức về chăm sóc BTDD với chuyên khoa công tác (p=0,004), đã từng tham gia tập huấn về chăm sóc BTDD (p=0,001), và số lần thực hiện chăm sóc BTDD (p=0,001). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiến thức với giới tính, thâm niên công tác, hoặc trình độ chuyên môn. Kết luận: Kiến thức của điều dưỡng về chăm sóc BTDD tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng còn hạn chế, đặc biệt ở mức trung bình-yếu. Việc tham gia tập huấn và kinh nghiệm thực hành có ảnh hưởng tích cực đến kiến thức. Cần tổ chức các lớp đào tạo định kỳ và kiểm tra thực hành để nâng cao chất lượng chăm sóc BTDD.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

Dougherty L. Implanted ports: benefits, challenges and guidance for use. British Journal of Nursing. 2011;20(Sup4):S12-S9.
2. Estey E.H. Acute myeloid leukemia: 2013 update on risk‐stratification and management. American journal of hematology. 2013;88(4):317-27.
3. Bispo JAB, Pinheiro P.S., Kobetz E.K. Epidemiology and etiology of leukemia and lymphoma. Cold Spring Harbor perspectives in medicine. 2020;10(6):a034819.
4. Bộ Y tế. Hướng dẫn quy trình kỹ thuật khám, chữa bệnh chuyên ngành ung bướu: Phẫu thuật đặt buồng tiêm truyền dưới da. 2013.
5. Government Q. Guideline: totally implantable central venous access ports. In: Health. Do, editor. 2015.
6. Özden D, Çalişkan N. Turkish nurses’ level of knowledge regarding implantable port catheter care. Japan Journal of Nursing Science. 2012; 9(1):1-8.
7. Hoa NT. Improving the Knowledge of Port-A-Cath Care For Nurses. 2019.
8. El-Metwaly RM, Abd-El Salam SN. Effect of Educational Program on Nurses knowledge & Practice towards Patients with Implantable Port Catheter.
9. Tsai Sing-Ling Chai S-K, Hsieh L-F, Lin S, Taur F-M, Sung W-H, Doong J-L. The use of virtual reality computer simulation in learning Port-A cath injection. Advances in Health Sciences Education. 2008;13:71-87.
10. Khalil N, Youssef W, Shalaby L, Moustafa Z. Oncology critical Care nurse's knowledge about insertion, care and complications of venous Port catheters in Egypt. Adv Practice Nurs. 2017;2(2): 137-42.