THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC KHÁNG VI RÚT (ARV) VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH HIV/AIDS TUỔI 18–39 TẠI XÃ GIỒNG RIỀNG, TỈNH AN GIANG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Tuân thủ điều trị thuốc kháng vi rút (ARV) đóng vai trò quyết định trong ức chế tải lượng HIV, phòng ngừa kháng thuốc và cải thiện chất lượng sống của người bệnh HIV/AIDS. Nhóm người bệnh trẻ (18–39 tuổi) thường gặp nhiều rào cản về kiến thức, nghề nghiệp, kinh tế và tâm lý, có thể ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ điều trị. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng tuân thủ ARV và xác định một số yếu tố liên quan ở người bệnh HIV/AIDS tuổi 18–39 điều trị ngoại trú tại xã Giồng Riềng, tỉnh An Giang. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 130 người bệnh được chọn bằng phương pháp chọn mẫu toàn bộ. Dữ liệu được thu thập qua bộ câu hỏi gồm đặc điểm nhân khẩu – xã hội, kiến thức về ARV, đặc điểm điều trị và thang đo tuân thủ GMAS-11. Phân tích mô tả, Chi–square/Fisher và hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan với mức ý nghĩa p < 0,05. Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng là 30,5 ± 5,6 năm; nam giới chiếm 78,5%. Tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV theo thang đo GMAS đạt 36,9%, trong khi 63,1% không tuân thủ. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm: trình độ học vấn (p < 0,05), kiến thức đúng về ARV (p < 0,01), thời gian điều trị > 3 năm (p < 0,05), tuân thủ lịch tái khám (p < 0,01), tải lượng HIV < 200 copies/ml (p < 0,01) và tình trạng tác dụng phụ (p < 0,05). Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ ARV ở nhóm người bệnh 18–39 tuổi còn thấp. Kiến thức đúng về ARV và tải lượng HIV được ức chế là những yếu tố quan trọng giúp cải thiện tuân thủ. Cần tăng cường tư vấn, hỗ trợ theo dõi và can thiệp phù hợp cho nhóm bệnh nhân trẻ.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Điều trị kháng vi rút; HIV/AIDS; Tuân thủ điều trị; Thang đo GMAS; Yếu tố nguy cơ
Tài liệu tham khảo
2. Tâm LM, Trầm TV, Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân HIV/AIDS đang điều trị ARV tại Trung tâm Y tế thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương năm 2023, Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 532(2).
3. Thủy ĐT, Nhung VH, Thực trạng tuân thủ điều trị ARV của người bệnh HIV/AIDS tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vũ Thư năm 2023, Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 542(3).
4. Bộ Y tế, Hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS (Ban hành kèm theo Quyết định số 5456/QĐ-BYT ngày 20/11/2019), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2019, 1–220.
5. Finitsis DJ, Pellowski JA, Johnson BT, Text message intervention designs to promote adherence to antiretroviral therapy: A meta-analysis of randomized controlled trials, PloS one, 2014, 9(2):e88166.
6. Mills EJ, Nachega JB, Buchan I, Orbinski J, Attaran A, Singh S, Rachlis B, Wu P, Cooper C, Thabane L, Wilson K, Adherence to antiretroviral therapy in sub-Saharan Africa and North America: A meta-analysis, Jama, 2006, 296(6):679–690.
7. Naqvi AA, Hassali MA, Rizvi M, Zehra A, Iffat W, Haseeb A, Jamshed S, Development and validation of a novel General Medication Adherence Scale (GMAS) for chronic illness patients in Pakistan, Frontiers in Pharmacology, 2018, 9:1124.
8. World Health Organization. Consolidated guidelines on the use of antiretroviral drugs for treating and preventing HIV infection: recommendations for a public health approach June 2013, Geneva:World Health Organization, 2013, 1-272.