THỰC TRẠNG CĂNG THẲNG TÂM LÝ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHÂN VIÊN Y TẾ TRONG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG DỊCH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tiêu Thảo Ngân1,, Ngô Quốc Hưng2, Nguyễn Thị Phụng3
1 Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh
2 Khoa tạo hình thẩm mỹ - Bệnh viện Chợ Rẫy
3 Khoa Phụ sản kế hoạch hóa gia đình - Bệnh viện Mỹ Đức Phú Nhuận

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định mức độ của căng thẳng tâm lý và một số yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng tâm lý của nhân viên y tế (NVYT) tham gia công tác phòng chống dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện vào tháng 03 năm 2021 trên 271 NVYT tại các Trung tâm Y tế Quận/Huyện, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố (HCDC)  tham gia phòng chống dịch. Chúng tôi sử dụng thang đo DASS 21 (tiểu thang stress 7 câu) để đánh giá mức độ căng thẳng. Phân tích sâu được thực hiện trên 154 NVYT có mức độ căng thẳng từ “Vừa” đến “Rất nặng”. Số liệu được xử lý và phân tích trên phần mềm SPSS phiên bản 22.0. Kết quả: 56,8 % NVYT căng thẳng từ vừa đến rất nặng. Trong nhóm này, mức độ nặng chiếm tỷ lệ cao nhất (59,7%) và rất nặng chiếm 15,6%. Yếu tố ảnh hưởng cao nhất đến căng thẳng là đặc thù công việc (ĐTB = 2,94), với mối lo ngại lớn nhất là "lây nhiễm cho người xung quanh" (ĐTB = 3,51). Yếu tố gia đình xếp thứ hai (ĐTB = 2.7) tiếp theo là yếu tố cá nhân (ĐTB = 2.48) và thấp nhất là yếu tố xã hội (ĐTB = 2.42). Ba yếu tố cụ thể gây ảnh hưởng nhất đối với căng thẳng tâm lý NVYT được xác định là "vị trí việc làm" (ĐTB = 3,53) "lây nhiễm cho người xung quanh" (ĐTB = 3,51) và "thời gian chăm sóc con cái" (ĐTB = 3,42). Kết luận: Tỷ lệ NVYT tham gia công tác phòng chống dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh có căng thẳng tâm lý là rất đáng báo động (56,8%), với mức độ nặng chiếm đa số. Các yếu tố liên quan đến đặc thù công việc (nỗi lo lây nhiễm, thu nhập) và gia đình (thiếu thời gian cho con cái) là những nguồn gây căng thẳng chính

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Đỗ Mạnh Tôn. “Về một số biện pháp đảm bảo sức khỏe tinh thần cho người lao động hiện nay.” Hội thảo khoa học chăm sóc sức khỏe tinh thần - Hội Khoa học Tâm lý giáo dục Việt Nam, 2008, Bảo Long.
2. Bộ Y tế. “Bản tin cập nhật tình hình Covid-19 (28/4/2020).” Cục Y tế Dự phòng, 2020, http://vncdc.gov.vn/vi/phong-chong-dich-benh-viem-phoi-cap-ncov/13953/ban-tin-cap-nhat-tinh-hinh-civid-19-ngay-28-4-2020.
3. Đào Duy Duyên. “Vấn đề stress của công nhân ở một số khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.” Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2010.
4. Rossi, R., Socci, V., Pacitti, F., Di Lorenzo, G., Di Marco, A., Siracusano, A., and A. Rossi. “Mental Health Outcomes among Frontline and Second-Line Health Care Workers during the Coronavirus Disease 2019 (COVID-19) Pandemic in Italy.” JAMA Network Open, 2020.
5. Cooper, C. L., et al. “Mental Health, Job Satisfaction, and Job Stress among General Practitioners.” BMJ, 1989.
6. Đỗ Thị Lệ Hằng. Căng thẳng ở học sinh THPT. Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Học viện Khoa học Xã hội, 2013.
7. Aiken, L. H., et al. “Hospital Nurse Staffing and Patient Mortality, Nurse Burnout, and Job Dissatisfaction.” JAMA, 2002.
8. Bùi Hồng Quân. “Từ các mô hình giảm căng thẳng trong môi trường công việc cho đội ngũ Y, Bác sĩ và NVYT ở Úc đến những đề xuất cho Việt Nam.” Hội thảo Quốc tế Tâm lý học, 2019.