ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM DA TIẾP XÚC BÀN TAY MẠN TÍNH

Lê Thu Hiền1, Trần Gia Hưng1, Nguyễn Thị Thuỳ Tramg1, Phạm Thanh Thảo1, Lạc Thị Kim Ngân1,
1 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mở đầu: Viêm da tiếp xúc bàn tay mạn tính là một bệnh da phổ biến, thường biểu hiện kéo dài, dai dẳng, hiệu quả điều trị còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian mắc bệnh và điều kiện môi trường sống. Các phương pháp điều trị bao gồm loại bỏ yếu tố gây bệnh, thuốc thoa có hoặc không kết hợp với thuốc uống. Mục tiêu: mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị viêm da tiếp xúc bàn tay mạn tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Cần Thơ gồm 50 bệnh nhân viêm da tiếp xúc bàn tay mạn tính năm 2025. Kết quả: nhóm tuổi > 45 chiếm ưu thế (50%). Vị trí thương tổn lòng bàn tay chiếm 44%. Trong các yếu tố tiếp xúc gây bệnh, xà phòng chiếm tỷ lệ cao nhất với (36%), tiếp theo là kim loại (24%). Trong các phương pháp điều trị, dưỡng ẩm được sử dụng cho toàn bộ bệnh nhân (100%), loại bỏ yếu tố gây bệnh và mang găng tay khi làm việc lần lượt là (90%) và (80%). Corticoid tại chỗ được dùng cho (84%) bệnh nhân. Phần lớn có thời gian điều trị kéo dài trên 4 tuần (60%), trong khi chỉ (40%) điều trị dưới hoặc bằng 4 tuần. Sau điều trị, phần lớn bệnh nhân có đáp ứng hoàn toàn (56%), tiếp đến là đáp ứng một phần (34%), chỉ có (10%) không đáp ứng. Tỷ lệ bệnh nhân tái phát > 1 tháng chiếm (84%), và  1 tháng chiếm (16%). Kết luận: Lòng bàn tay là vị trí thương tổn thường gặp nhất. Xà phòng là yếu tố gây bệnh thường gặp nhất. Đa số các bệnh nhân được điều trị phối hợp thuốc thoa và thuốc uống. Dưỡng ẩm được sử dụng cho toàn bộ bệnh nhân. Sau 8 tuần điều trị, lâm sàng của bệnh nhân cải thiện rõ rệt nhất. Tác dụng phụ tại chỗ và toàn thân nhẹ, thoáng qua.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Đào Minh Châu, Hoàng Thị Làn, Nguyễn Thị Lệ Thủy (2022), Khảo sát đặc điểm lâm sàng, kiến thức, thái độ, thực hành của sinh viên Y5 với bệnh viêm da tiếp xúc kích ứng mạn tính bàn tay năm 2022, Tạp chí Y học Việt Nam tập 527 số 1, trang 182-187.
2. Nguyễn Văn Thường (2019), Hình ảnh lâm sàng, chẩn đoán và điều trị trong chuyên nghành da liễu tập 2, Nhà xuất bản Y học.
3. Bizjak M., Aerts O., Pesqué D., et al. (2025), Contract urticaria and related conditions: clinical review. Contract Dermatitis, 2, pp. 87 - 107.
4. Chernyshov P., Kolodzinska L. (2020), Prospective study on hand dermatitis in nurses and doctors during COVID - 19 pandemic and its improvement by use of adopted recommendations of the European Academy of Dermatology and Venereology Task Force on Contact Dermatitis. Dermatology and Theraphy, 6, e14396.
5. Siddiqui M., Sarshar F., Saraswat. (2023), The impact of hand eczema severity on quality of life in workers engaged in lock making: A cross - sectional study from tertiary care hospital. Indian Journal of Skin Allergy, 2, pp. 1-7.
6. Stingeni L., Guarneri F., Balato A., et al. (2024), Italian expert opinion on chronic hand eczema: from guidelines to clinical practice. Dermatology and Theraphy, 1, pp. 75 - 93.