ĐẶC ĐIỂM VI SINH VÀ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA MỘT SỐ CHỦNG VI KHUẨN GÂY BỆNH TRÊN BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN HUYẾT TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRÀ VINH

Trần Bình Yên1, , Nguyễn Phan Trọng Hiếu2, Lê Thuý Quỳnh2
1 Trường Y Dược – Đại học Trà Vinh
2 Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Nhiễm khuẩn huyết là tình trạng nhiễm trùng nặng, có tỷ lệ tử vong cao, trong đó việc lựa chọn kháng sinh phụ thuộc vào đặc điểm vi khuẩn và mức độ đề kháng tại từng cơ sở y tế.


Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ nhiễm và mức độ đề kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn gây bệnh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết tại Khoa Hồi sức tích cực – Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh.


Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu – cắt ngang trên 129 bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết từ 05/2024 đến 05/2025 tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh.


Kết quả: Tỷ lệ cấy máu dương tính chiếm 38,76%. Vi khuẩn Gram âm chiếm ưu thế (60%) với Escherichia coli (16,00%) và Klebsiella pneumoniae (14,00%) là 2 tác nhân Gram âm phổ biến nhất. Còn ở nhóm Gram dương, Staphylococcus âm tính với coagulase (CoNS) chiếm tỷ lệ cao nhất (36,00%). Tình trạng đề kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được đánh giá là nghiêm trọng. Escherichia coli và Klebsiella pneumoniae có tỷ lệ kháng rất cao đối với các Cephalosporin thế hệ 2,3 và Fluoroquinolon, tuy nhiên vẫn còn nhạy cảm với kháng sinh nhóm Carbapenem và Amikacin; Enterobacter spp. đề kháng hoàn toàn với nhiều kháng sinh nhóm β – lactam và Trimethoprim/sulfamethoxazole. Riêng vi khuẩn CoNS đề kháng cao với kháng sinh Oxacillin, Erythromycin và Clindamycin, tuy vẫn còn nhạy với Vancomycin và Linezolid.


Kết luận: Vi khuẩn Gram âm là tác nhân chủ yếu gây nhiễm khuẩn huyết tại Khoa Hồi sức tích cực. Tình trạng đề kháng kháng sinh đáng lo ngại, đặc biệt với cephalosporin và fluoroquinolon, cần lưu ý trong điều trị thực nghiệm và xây dựng phác đồ kháng sinh hợp lý.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Thị Thanh Hà (2005), “Nhiễm khuẩn bệnh viện: Tỷ lệ hiện mắc, yếu tố nguy cơ tại 6 bệnh viện phía Nam”, Tạp chí Y học Thực hành, số 518, tr. 81 – 87.
2. Lâm Minh Hiển (2013), “Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh tại khoa Hồi sức chống độc Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2013”, Luận văn chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.
3. Trần Tài Lộc và cộng sự (2024), “43. Các tác nhân nhiễm khuẩn huyết và tình hình đề kháng kháng sinh tại Bệnh viện Thống Nhất”, Tạp chí Y học Cộng đồng, 65(CĐ10 - Bệnh viện Thống Nhất), tr. 275 – 280.
4. Trần Thanh Minh và cộng sự (2019), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng,cận lâm sàng của bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết tại Bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh”, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 23(3), tr. 6.
5. Đỗ Trí Ngoan (2018), “Nghiên cứu tình hình sử dụng và mức độ đề kháng kháng sinh trên hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân điều trị nội trú tại Khoa Hồi sức tích cực chống độc Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh năm 2018-2019”, Luận văn chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.
6. Đoàn Mai Phương và cộng sự (2012), “Tỷ lệ, căn nguyên và tình hình sử dụng kháng sinh ở bệnh nhân NKH tại bệnh viện Bạch Mai năm 2002 – 2009”, Tạp chí Y học Thực hành, tập 5, tr. 42.
7. Mervyn Singer and et al (2016), “The third international consensus definitions for sepsis and septic shock (sepsis-3)”, Jama, vol. 315, no. 8, pp. 801 – 810.
8. Van An N and et al (2023), “Distribution and Antibiotic Resistance Characteristics of Bacteria Isolated from Blood Culture in a Teaching Hospital in Vietnam During 2014 – 2021”, Infect Drug Resist, vol. 16, pp. 1677 – 1692.
9. WHO (2024), Guidelines on the Clinical Management of Sepsis”, World Hearth Organization.