ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI HAI PHÒNG KHÁM TIM MẠCH BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Ngọc Hoành Mỹ Tiên1,2, , Hồ Thị Thủy Tùng3, Nguyễn Thị Hoàng Quỳnh1, Thân Hà Ngọc Thể1
1 Đại học Y Dược TP.HCM
2 Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM
3 Bệnh viện Đa khoa Bưu Điện TP.HCM

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Rối loạn giấc ngủ và bệnh lý tim mạch ở người cao tuổi (NCT) ngày càng gia tăng. Chất lượng giấc ngủ (CLGN) kém có liên quan với nhiều hậu quả bất lợi như tăng huyết áp, suy tim, đột quỵ và trầm cảm. Thang Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI) hiện là công cụ được sử dụng rộng rãi để đánh giá CLGN. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu về CLGN ở NCT có bệnh lý tim mạch ngoại trú, vẫn còn hạn chế.


Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ CLGN kém bằng thang PSQI và khảo sát một số yếu tố liên quan đến CLGN ở NCT ngoại trú có bệnh lý tim mạch.


Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên bệnh nhân ≥ 60 tuổi có bệnh lý tim mạch điều trị ngoại trú tại phòng khám A Nội Tim mạch và phòng khám A Tim mạch can thiệp, Bệnh viện Thống Nhất, TP.HCM. Chất lượng giấc ngủ được đánh giá bằng thang PSQI, CLGN kém khi PSQI > 5. Dùng hồi quy logistic đơn biến, đa biến để xác định các yếu tố liên quan đến CLGN.


Kết quả: Nghiên cứu trên 412 NCT ngoại trú có bệnh lý tim mạch ghi nhận tỷ lệ CLGN kém theo PSQI là 46,6%. Nghiên cứu đưa ra các yếu tố liên quan CLGN kém: nữ giới (OR = 4,46, khoảng tin cậy (KTC) 95% 2,25 – 8,82, p < 0,001), không tập thể dục (OR = 4,77, KTC 95% 2,57 – 8,85, p < 0,001), suy tim mạn (OR = 3,32, KTC 95% 1,07 – 10,26, p = 0,037), tiền sử đột quỵ não (OR = 3,10, KTC 95% 1,06 – 9,10, p = 0,039), thoái hóa khớp (OR = 1,89, KTC 95% 1,01 – 3,54, p = 0,045), đau mạn tính (OR = 7,60, KTC 95% 1,81 – 31,98, p = 0,006), trầm cảm (OR = 14,58, KTC 95% 3,72 – 57,10, p < 0,001).


Kết luận: Tỷ lệ CLGN kém ở NCT ngoại trú có bệnh lý tim mạch khá cao. Các yếu tố liên quan đến CLGN kém gồm nữ giới, không tập thể dục, suy tim mạn, tiền sử đột quỵ não, thoái hóa khớp, đau mạn tính và trầm cảm. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần tăng cường đánh giá chất lượng giấc ngủ ở nhóm bệnh nhân này trong thực hành lâm sàng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Morin CM, Jarrin DC. Epidemiology of Insomnia: Prevalence, Course, Risk Factors, and Public Health Burden. Sleep Medicine Clinics. 2022;17(2):173-191. doi:10.1016/j.jsmc.2022.03.003.
2. Buysse DJ, Reynolds CF, Monk TH, Berman SR, Kupfer DJ. The Pittsburgh sleep quality index: A new instrument for psychiatric practice and research. Psychiatry Research. 1989;28(2):193-213. doi:10.1016/0165-1781(89)90047-4.
3. Tô Minh Ngọc, Nguyễn Đỗ Nguyên, Phùng Khánh Lâm, Nguyễn Xuân Bích Huyền, Trần Thị Xuân Lan. Thang đo chất lượng giấc ngủ Pittsburgh phiên bản tiếng Việt. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2014;18(6): tr.664-668.
4. Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Trần Tố Trân, Nguyễn Văn Trí. Chất lượng giấc ngủ và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân cao tuổi tại một phòng khám đa khoa. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2018;22(1): tr.199-204.
5. Trần Kim Trang. Chất lượng giấc ngủ ở người tăng huyết áp. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2014;18(1): tr.150-154.
6. Gou F, Zhong X, Jiao H. Sleep quality and related influencing factors in adult hypertensive patients in Shandong Province, China. Medicine. 2023;102(22):e33926. doi:10.1097/md.0000000000033926.
7. Lê Minh Tường Vân, Nguyễn Trần Tố Trân, Nguyễn Văn Trí. Khảo sát chất lượng giấc ngủ và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại cộng đồng quận 8 thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2018;23(6): tr.83-89.
8. Quan SA, Li YC, Li WJ, Li Y, Jeong JY, Kim DH. Gender Differences in Sleep Disturbance among Elderly Koreans: Hallym Aging Study. Journal of Korean Medicine Science. 2016;31(11):1689-1695. doi:10.3346/jkms.2016.31.11.1689.