ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ MỨC ĐỘ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA STAPHYLOCOCCUS AUREUS PHÂN LẬP ĐƯỢC TỪ BỆNH PHẨM LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN NHI HẢI DƯƠNG NĂM 2025

Hoàng Thị Hậu1, , Vũ Thanh Huyền2, Nguyễn Thái Hiệp2, Nguyễn Tiến Đạt2, Nguyễn Thị Hồng Nhung1, Phùng Thị Khánh Thảo1
1 Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương
2 Bệnh viện Nhi Hải Dương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Staphylococcus aureus là một trong những căn nguyên gây nhiễm khuẩn thường gặp ở cả cộng đồng và bệnh viện. Sự gia tăng tình trạng kháng kháng sinh, đặc biệt là các chủng tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA), đang trở thành thách thức lớn trong điều trị và kiểm soát nhiễm khuẩn. 


Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm phân bố và mức độ đề kháng kháng sinh của Staphylococcus aureus phân lập được từ bệnh phẩm lâm sàng tại Bệnh viện Nhi Hải Dương năm 2025.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên tất cả các chủng S. aureus phân lập được từ bệnh phẩm lâm sàng của bệnh nhân tại Bệnh viện Nhi Hải Dương năm 2025. Các chủng vi khuẩn được định danh và làm kháng sinh đồ bằng phương pháp khuếch tán đĩa giấy Kirby-Bauer và hệ thống tự động Vitek 2. Kết quả được diễn giải theo tiêu chuẩn CLSI M100 năm 2024.


Kết quả: Năm 2025, Bệnh viện Nhi Hải Dương phân lập được 439 chủng S. aureus, chiếm 13,98% tổng số chủng vi khuẩn. Bệnh nhân nam chiếm 62,41%; nhóm tuổi dưới 2 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất (54,90%). S. aureus được phân lập chủ yếu tại khoa Sơ sinh (42,14%) và khoa Hồi sức cấp cứu (27,33%). Các chủng vi khuẩn còn nhạy cảm hoàn toàn với vancomycin và linezolid (100%), trong khi tỷ lệ đề kháng cao với benzylpenicillin (98,41%), cefoxitin và oxacillin (74,72%). Tỷ lệ MRSA là 74,72%.


Kết luận: Staphylococcus aureus là một trong những tác nhân gây nhiễm khuẩn thường gặp tại Bệnh viện Nhi Hải Dương, tập trung chủ yếu ở trẻ dưới 2 tháng tuổi, khoa Sơ sinh. Tỷ lệ MRSA và mức độ đề kháng với nhiều kháng sinh ở mức cao, trong khi vancomycin và linezolid vẫn duy trì hiệu quả tốt đối với các chủng S. aureus phân lập được.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Lê Huy Chính (2007), Vi sinh vật y học, Nhà xuất bản Y học, tr. 134-141.
2. Bộ Y tế (2023), Báo cáo giám sát kháng kháng sinh tại Việt Nam 2020.
3. Clinical and Laboratory Standards Institute (2024), Performance Standards for Antimicrobial Susceptibility Testing; CLSI Supplement M100, 34th edition.
4. Zhang X.L., Liu J. (2025), "Epidemiological profile and antimicrobial resistance trends of Staphylococcus aureus in Chinese pediatric intensive care units from 2016 to 2022: a multi-center retrospective study", BMC Infectious Diseases (2025) 25:298 https://doi.org/10.1186/s12879-025-10704-0
5. Vũ Văn Bình, Đỗ Hùng Trần (2023), “Nghiên cứu tình hình kháng kháng sinh và các yếu tố liên quan của Staphylococcus aureus được phân lập từ bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ”, Tạp chí Y học Việt Nam, 527 (1B), tr. 205 -209.
6. Đỗ Văn Cẩn và cộng sự (2023), “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị nhiễm trùng vùng đầu - mặt - cổ ở trẻ em do Staphylococcus aureus tại khoa Răng hàm mặt - Bệnh viện Nhi Trung ương”, Tạp chí Nhi Khoa, 16(2), tr. 68-74.
7. Nguyễn Thị Bé Hai, Nguyễn Thị Hải Yến (2021), “Xác định tỉ lệ nhiễm và sự đề kháng kháng sinh Staphylococcus aureus kháng methicilline được phân lập từ bệnh phẩm tại bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ và Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ năm 2020-2021”, Tạp chí y dược học Cần Thơ, 39, tr. 172-178.