ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG KHỚP GỐI SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI TÁI TẠO DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC MỘT BÓ BẰNG KỸ THUẬT “ALL-INSIDE” TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY NĂM 2026
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phục hồi chức năng khớp gối sau phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước một bó bằng kỹ thuật “All-inside” tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng trên 55 bệnh nhân (nam 87,3%, nữ 12,7%) được phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước một bó bằng kỹ thuật All-inside sử dụng mảnh ghép gân Hamstring. Bệnh nhân được theo dõi và đánh giá tại các thời điểm 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng sau phẫu thuật theo thang điểm Lysholm, IKDC chủ quan và các chỉ số lâm sàng khách quan. Kết quả: Tuổi trung bình 34,4 ± 9,8; nguyên nhân chấn thương chủ yếu do chơi thể thao (60,0%). Điểm Lysholm trung bình cải thiện từ 61,3 ± 7,6 (tháng 1) lên 82,9 ± 7,5 (tháng 3) và 94,7 ± 6,8 (tháng 6); điểm IKDC chủ quan tăng tương ứng từ 61,1 ± 8,1 lên 94,5 ± 7,2 (p < 0,001). Sau 6 tháng, 94,5% bệnh nhân đạt kết quả Rất tốt và Tốt. Giới tính nam là yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến kết quả PHCN (p < 0,001). Kết luận: Phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước một bó bằng kỹ thuật All-inside kết hợp chương trình PHCN sớm và có cấu trúc mang lại kết quả tốt về chức năng khớp gối, với 94,5% bệnh nhân đạt kết quả rất tốt và tốt sau 6 tháng.
Từ khóa
tái tạo dây chằng chéo trước, kỹ thuật All-inside, phục hồi chức năng, Lysholm score, IKDC.
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Đỗ Quang Sang, Phạm Quang Vinh, Nguyễn Phương Nam (2022), Kết quả phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối với mảnh ghép nửa trước gân cơ mác dài tự thân kỹ thuật tất cả bên trong. Tạp chí Y học Việt Nam. 2022;519(2).
3. A. M. Bruder, A. G. Culvenor, et al (2023), Let's talk about sex (and gender) after ACL injury: a systematic review and meta-analysis of self-reported activity and knee-related outcomes, Br J Sports Med, số 57(10), tr. 602-610.
4. Y. Kaplan, E. Witvrouw (2019), When Is It Safe to Return to Sport After ACL Reconstruction? Reviewing the Criteria, Sports Health, số 11(4), tr. 301-305.
5. D. Niederer, M. Behringer, T. Stein (2023), Functional outcomes after anterior cruciate ligament reconstruction: unravelling the role of time between injury and surgery, time since reconstruction, age, gender, pain, graft type, and concomitant injuries, BMC Sports Sci Med Rehabil, số 15(1), tr. 49.
6. M. V. Paterno (2015), Incidence and Predictors of Second Anterior Cruciate Ligament Injury After Primary Reconstruction and Return to Sport, J Athl Train, số 50(10), tr. 1097-9.
7. T. L. Sanders, H. Maradit Kremers, et al (2016), Incidence of Anterior Cruciate Ligament Tears and Reconstruction: A 21-Year Population-Based Study, Am J Sports Med, số 44(6), tr. 1502-7.
8. N. Van Melick, R. E. Van Cingel, et al (2016), Evidence-based clinical practice update: practice guidelines for anterior cruciate ligament rehabilitation based on a systematic review and multidisciplinary consensus, Br J Sports Med, số 50(24), tr. 1506-1515.