ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN SỐC PHẢN VỆ KHÔNG ĐÁP ỨNG VỚI THUỐC VẬN MẠCH - CƯỜNG TIM LIỀU CAO ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu:Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân sốc phản vệ không đáp ứng với thuốc vận mạch - cường tim liều cao điều trị tại Bệnh viện Quân y 175.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu có phân tích, thực hiện trên 54 bệnh nhân sốc phản vệ không đáp ứng với thuốc vận mạch - cường tim liều cao điều trị tại Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 12/2022 đến tháng 10/2025.
Kết quả: Nghiên cứu trên 54 bệnh nhân, nam chiếm 59,3%, tuổi trung bình 56,2 ± 17,8. Nguyên nhân chủ yếu là do thuốc (51,9%), với 55,6% trường hợp khởi phát trong bệnh viện. Tất cả bệnh nhân đều có tụt huyết áp, trong đó suy hô hấp gặp ở 75,9%. Lactate trung bình là 5,6 ± 2,3 mmol/L, pH máu 7,28 ± 0,08. Tất cả bệnh nhân sử dụng ≥ 2 thuốc vận mạch, 70,4% cần thở máy xâm nhập, tỷ lệ tử vong là 24,1%. Lactate > 6 mmol/L, SpO₂ < 90% và không có biểu hiện ngoài da có liên quan đến tử vong (p < 0,05).
Kết luận: Sốc phản vệ không đáp ứng với thuốc vận mạch - cường tim liều cao có biểu hiện lâm sàng nặng, thường cần hỗ trợ tích cực và có tỷ lệ tử vong đáng kể. Các yếu tố như lactate > 6 mmol/L, SpO₂ < 90% và không có biểu hiện ngoài da được ghi nhận có liên quan đến tử vong.
Từ khóa
Sốc phản vệ, điều trị thuốc vận mạch - cường tim liều cao, sốc kháng trị, hồi sức cấp cứu
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Jentzer JC, Vallabhajosyula S, Khanna AK, Chawla LS, Busse LW, Kashani KB. Management of Refractory Vasodilatory Shock. Chest. 2018;154:416–26. https://doi.org/10.1016/j.chest.2017.12.021
3. Bộ Y tế. Thông tư 51/2017/TT-BYT “hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ. 2017.
4. Vũ Tuấn Dũng, Nguyễn Duy Tú. Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị phản vệ tại Khoa cấp cứu Bệnh viện Đa khoa Sóc Sơn năm 2024. Tạp chí Y học Việt Nam. 2026;559:338–43. https://doi.org/10.51298/vmj.v559i2.17611
5. Francuzik W, Dölle-Bierke S, Knop M, Scherer Hofmeier K, Cichocka-Jarosz E, García BE, et al. Refractory Anaphylaxis: Data From the European Anaphylaxis Registry. Front Immunol. 2019;10:2482. https://doi.org/10.3389/fimmu.2019.02482
6. Simons FER, Ardusso LRF, Bilò MB, El-Gamal YM, Ledford DK, Ring J, et al. World Allergy Organization Guidelines for the Assessment and Management of Anaphylaxis. World Allergy Organ J. 2011;4:13–37. https://doi.org/10.1097/WOX.0b013e318211496c
7. Pouessel G, Deschildre A, Dribin TE, Ansotegui IJ, Cardona V, Chinthrajah RS, et al. Refractory Anaphylaxis: A New Entity for Severe Anaphylaxis. J Allergy Clin Immunol Pract. 2023;11:2043–8. https://doi.org/10.1016/j.jaip.2023.04.037
8. Dewachter P, Savic L. Perioperative anaphylaxis: pathophysiology, clinical presentation and management. BJA Educ. 2019;19:313–20. https://doi.org/10.1016/j.bjae.2019.06.002