NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN SỎI NIỆU QUẢN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HẢI PHÒNG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Nhận xét giá trị của siêu âm trong chẩn đoán sỏi niệu quản tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả chùm ca bệnh trên 166 bệnh nhân được chẩn đoán xác định sỏi niệu quản bằng chụp cắt lớp vi tính, có đầy đủ kết quả siêu âm và chụp cắt lớp vi tính, thu thập tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng từ tháng 01/2024 đến tháng 03/2025. Giá trị chẩn đoán của siêu âm được đánh giá thông qua độ nhạy, độ đặc hiệu theo vị trí và kích thước sỏi và các dấu hiệu gián tiếp, với CLVT làm tiêu chuẩn tham chiếu.
Kết quả: Trong 166 bệnh nhân, nam chiếm 71,08%, tuổi trung bình 47,9 ± 14,47. Siêu âm phát hiện sỏi niệu quản ở 72,29% trường hợp. Giá trị chẩn đoán của siêu âm thay đổi theo vị trí sỏi: cao nhất ở 1/3 trên (độ nhạy 80,33%; độ đặc hiệu 98,10%), tiếp đến 1/3 dưới (68,13%; 100%) và thấp nhất ở 1/3 giữa (64,29%; 91,45%). Theo kích thước, độ nhạy của siêu âm trong việc phát hiện sỏi >5 mm là 88,46%, với sỏi 3–5 mm là 61,45%; siêu âm không phát hiện được các trường hợp sỏi <3 mm. Trong phát hiện dấu hiệu giãn đài bể thận và niệu quản, siêu âm có độ nhạy cao (93,98%), trong khi độ nhạy đối với thâm nhiễm quanh niệu quản thấp (9,80%) nhưng độ đặc hiệu cao (97,39%). Kích thước sỏi đo trên siêu âm và chụp cắt lớp vi tính không khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), với hệ số tương quan mức trung bình (r = 0,594; p < 0,05).
Kết luận: Siêu âm có giá trị trong chẩn đoán sỏi niệu quản, đặc biệt với sỏi kích thước lớn và vị trí 1/3 trên. Phương pháp này có độ nhạy cao trong phát hiện các dấu hiệu gián tiếp của tắc nghẽn nhưng hạn chế trong phát hiện sỏi nhỏ và đánh giá các thay đổi viêm quanh niệu quản. Siêu âm có thể được sử dụng như phương tiện thăm dò ban đầu, góp phần định hướng chẩn đoán và giảm nhu cầu sử dụng CLVT trong một số trường hợp.
Từ khóa
Sỏi niệu quản, siêu âm, giá trị chẩn đoán
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Sorokin, I. et al. (2017) ‘Epidemiology of stone disease across the world’, World Journal of Urology, 35(9), pp. 1301–1320.
3. Liu, Y. et al. (2018) ‘Epidemiology of urolithiasis in Asia’, Asian Journal of Urology, 5(4), pp. 205–214.
4. Andrabi, Y. et al. (2015) ‘Advances in CT imaging for urolithiasis’, Indian Journal of Urology, 31(3), pp. 185–193.
5. Nguyễn Phước Bảo Quân (2017) ‘Hệ tiết niệu’, trong Siêu âm bụng tổng quát. Huế: Nhà xuất bản Đại học Huế, tr. 496–521.
6. Trịnh Hoàng Giang (2021) Nghiên cứu kết quả điều trị sỏi niệu quản bằng phương pháp tán sỏi nội soi ngược dòng sử dụng laser. Luận án tiến sĩ, Đại học Y Hà Nội.
7. Nguyễn Thị Mến (2021) Nhận xét tình trạng bệnh nhân mắc sỏi tiết niệu điều trị nội trú tại khoa Thận tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai. Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Y Hà Nội.
8. Ahmed, F. et al. (2018) ‘The role of ultrasonography in detecting urinary tract calculi compared to CT scan’, Research and Reports in Urology, 10, pp. 199–203.
9. Alahmadi, A.E. et al. (2020) ‘The gap between ultrasonography and computed tomography in measuring the size of urinary calculi’, Journal of Family Medicine and Primary Care, 9(9), pp. 4925–4928.