THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC LÁ VÀ TIẾP CẬN DỊCH VỤ CAI THUỐC LÁ Ở NGƯỜI MẮC BỆNH MẠN TÍNH TẠI CÁC BỆNH VIỆN TUYẾN TRUNG ƯƠNG Ở VIỆT NAM NĂM 2025

Trương Phan Nam Bình1, , Lưu Liên Hương1, Lê Minh Khánh1, Hoàng Hà Linh1, Trương Hồng Sơn1
1 Viện Y học ứng dụng Việt Nam

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng sử dụng thuốc lá và thực trạng tiếp cận dịch vụ cai thuốc lá của người bệnh mắc 5 bệnh mạn tính (tăng huyết áp, bệnh mạch vành, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính - COPD, ung thư phổi) tại các bệnh viện tuyến trung ương ở Việt Nam năm 2025.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên người bệnh từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán mắc ít nhất 1 trong 5 bệnh mạn tính phổ biến theo mã ICD-10, đến khám/điều trị tại 15 bệnh viện tuyến trung ương thuộc 11 tỉnh/thành phố. Cỡ mẫu tính toán là 3.710 người; thực tế thu thập được 3.720 người bệnh bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện có kiểm soát. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi phỏng vấn kết hợp thông tin từ hồ sơ bệnh án; mức độ phụ thuộc nicotine được đánh giá bằng thang Fagerström. Số liệu được nhập bằng Epidata và phân tích bằng Stata 12.


Kết quả: Tỷ lệ người bệnh đã/đang sử dụng thuốc lá là 43,7%, trong đó 21,7% hiện đang hút thuốc và 22% đã cai thuốc. Tỷ lệ sử dụng thuốc lá cao nhất ở người bệnh COPD, sau đó là ung thư phổi. Người bệnh hiện đang hút thuốc đã hút trung bình 44,9±15,2 năm, điểm Fagerström trung bình 4,5±2,3; 84,9% sử dụng thuốc lá điếu truyền thống và 62,7% có dự định cai thuốc trong 12 tháng tới. Có 60,3% người bệnh đã tiếp cận ít nhất một nguồn thông tin về thuốc lá, chủ yếu về tác hại đối với sức khỏe bản thân (93%); chỉ 17,6% tiếp cận thông tin về các biện pháp cai thuốc và 29,4% tiếp cận dịch vụ tư vấn tại cơ sở y tế. Trong số người bệnh có mong muốn cai thuốc, chỉ 31,6% biết đến liệu pháp thay thế nicotine. Đa số người bệnh đã cai thuốc (94%) tự cai mà không sử dụng biện pháp hỗ trợ.


Kết luận: Người bệnh mắc 5 bệnh mạn tính phổ biến vẫn còn tỷ lệ sử dụng thuốc lá đáng kể, trong khi khả năng tiếp cận thông tin về biện pháp cai thuốc và dịch vụ hỗ trợ cai nghiện tại cơ sở y tế còn hạn chế. Cần tăng cường lồng ghép sàng lọc, tư vấn và hỗ trợ cai thuốc lá vào quy trình quản lý bệnh mạn tính.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. WHO (2014). Tobacco Fact sheet number 339, World Health Organization Geneva. ,
2. WHO (2023). Tobacco and noncommunicable diseases.
3. Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cuba Đồng Hới (2017). Chương trình phòng chống tác hại thuốc lá. Báo cáo tìm hiểu thực trạng hút thuốc lá và nhu cầu ban đầu, khả năng tiếp cận của người dân đối với dịch vụ tư vấn và hỗ trợ cai nghiện thuốc lá tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cuba Đồng Hới.
4. Bộ Y tế (2015). Gánh nặng từ các bệnh không lây nhiễm.
5. Phan Thị Thu Trang, Nguyễn Thị Kiều Thơ, Nguyễn Ngọc Bích và Nguyễn Ánh Tuyết (2022). Thực trạng tư vấn ngắn cai hút thuốc lá tại khoa hô hấp Bệnh viện Nhân dân Gia Định năm 2019. Tạp chí Y dược học, 49,
6. Ahluwalia I.B., Tripp A.L., Dean A.K. và cộng sự (2021). Tobacco Smoking Cessation and Quitline Use Among Adults Aged >/=15 Years in 31 Countries: Findings From the Global Adult Tobacco Survey. Am J Prev Med, 60 (3 Suppl 2), S128-S135.
7. Nguyen Thi Dao, Tran Thi Ngoc Thu, Phan Ngoc Thuy và cộng sự (2021). Thực trạng hút thuốc lá và khả năng tiếp cận dịch vụ tư vấn, cai nghiện thuốc lá ở người có bệnh lý phổi mạn tính tại Trung tâm Y tế Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng năm 2020. Tạp chí Y học cộng đồng.
8. World Cancer Report: Cancer research for cancer prevention (2020). Tobacco cessation: the WHO perspective: Cessation support can more than double the chance of successfully quitting. Lyon (FR): International Agency for Research on Cancer.