SO SÁNH CHẤT LƯỢNG HỒI TỈNH CỦA DESFLURANE VÀ SEVOFLURANE TRÊN NGƯỜI BỆNH ĐƯỢC PHẪU THUẬT NỘI SOI TÁN SỎI THẬN QUA DA TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH NĂM 2026

Nguyễn Ngọc Hùng1, , Ngô Văn Hào1, Nguyễn Xuân Anh1, Nguyễn Mạnh Trường1, Nguyễn Trung Dũng1, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh1
1 Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: So sánh chất lượng hồi tỉnh của Desflurane và Sevoflurane trên người bệnh được phẫu thuật nội soi tán sỏi thận qua da dưới gây mê toàn thân tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh năm 2026.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 30 người bệnh ASA I-III được phẫu thuật nội soi tán sỏi thận qua da. Người bệnh được phân ngẫu nhiên thành hai nhóm: nhóm D (n = 15) duy trì mê bằng Desflurane và nhóm S (n = 15) duy trì mê bằng Sevoflurane. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm thời gian đạt MAC mong muốn, thời gian đạt MAC hồi tỉnh, thời gian hồi tỉnh, thời gian rút nội khí quản, thời gian đạt điểm Aldrete > 9 và các tác dụng không mong muốn sau mổ.


Kết quả: Hai nhóm tương đồng về tuổi, giới tính, BMI, thời gian phẫu thuật, thời gian gây mê và lượng thuốc sử dụng trong gây mê (p > 0,05). Thời gian đạt MAC mong muốn ở nhóm D ngắn hơn nhóm S (59,3 ± 6,3 giây so với 68,7 ± 7,2 giây; p < 0,001). Thời gian đạt MAC hồi tỉnh ở nhóm D cũng ngắn hơn đáng kể (225,1 ± 60,5 giây so với 330,6 ± 52,1 giây; p < 0,001). Thời gian hồi tỉnh, thời gian rút nội khí quản và thời gian đạt điểm Aldrete > 9 ở nhóm D lần lượt là 6,4 ± 0,9 phút; 7,8 ± 0,9 phút và 15,3 ± 1,8 phút, ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm S (9,8 ± 1,5 phút; 11,8 ± 1,7 phút và 22,1 ± 1,6 phút; p < 0,001). Chỉ ghi nhận 1 trường hợp buồn nôn ở nhóm S, không có sự khác biệt về các tác dụng không mong muốn giữa hai nhóm.


Kết luận: Desflurane giúp đạt và thoát mê nhanh hơn Sevoflurane, rút ngắn thời gian hồi tỉnh, thời gian rút nội khí quản và thời gian đạt tiêu chuẩn chuyển ra khỏi phòng hồi tỉnh trên người bệnh phẫu thuật nội soi tán sỏi thận qua da, đồng thời vẫn đảm bảo tính an toàn. Kết quả nghiên cứu cho thấy Desflurane là lựa chọn phù hợp trong chiến lược tăng cường hồi phục sau phẫu thuật (ERAS).

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Ljungqvist, O., Scott, M., Fearon, K.C.H. (2017), "Enhanced recovery after surgery: a review", JAMA Surgery. 152(3), tr. 292–298.
2. Miller, R.D., Cohen, N.H., Eriksson, L.I., Fleisher, L.A., Wiener-Kronish, J.P., Young, W.L. (2020), Miller’s Anesthesia, 9th ed., Elsevier, Philadelphia.
3. Singh p, Borle A, McGavin J, et al. (2017), "Comparison of the recovery profile between desflurane and sevoflurane in patients undergoing bariatric surgery—a meta-analysis of randomized controlled trials", 27(1 l),pp. 3031- 3039.
4. Yu H, Zhang L, Ma Y, et al. (2018), "Early postoperative recovery in operating room after desflurane anesthesia combined with Bispectral index (BIS) monitoring and warming in lengthy abdominal surgery: a randomized controlled study", 75(1), pp. 1-7
5. Nghiêm Thanh Tú (2012) "So sánh hiệu quả gây mê của desflurane với sevoflurane trong phẫu thuật nội soi viêm ruột thừa cấp". Tạp chí Y học thực hành, 5, tr. 109-112.
6. Bùi Thị Thúy Nga, Cao Thị Anh Đào (2013) So sánh duy trì mê bằng sevoflurane với desflurane trong phẫu thuật sỏi mật, Luận văn thạc sỹ, Đại học Y Hà Nội.
7. Phí Thị Hoa, Cao Thị Anh Đào (2016) So sánh kết quả duy trì mê bằng sử dụng sevoflurane hoặc desflurane trong phẫu thuật hàm mặt, Luận văn thạc sỹ, Đại học Y Hà Nội.