ĐẶC ĐIỂM MẠCH MÁU TRÊN DSA LIÊN QUAN VỚI HO RA MÁU NẶNG VÀ KẾT QUẢ CẦM MÁU SỚM SAU NÚT MẠCH

Nguyễn Văn Sang1, , Đặng Quốc Vũ2, Trần Phan Ninh3, Phạm Việt Hà2,3, Nguyễn Trường Giang2,3
1 Bệnh viện E
2 Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên
3 Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan giữa một số đặc điểm mạch máu trên chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) với ho ra máu nặng và mô tả kết quả cầm máu sớm sau nút động mạch phế quản và/hoặc động mạch hệ thống ngoài phế quản.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên 34 bệnh nhân ho ra máu được nút mạch tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 01/2024 đến tháng 06/2026. Các đặc điểm hình thái mạch trên DSA, mức độ ho ra máu và kết quả sớm sau nút mạch được ghi nhận; số liệu được xử lý bằng SPSS 25.0.


Kết quả: Ho ra máu nặng chiếm 52,9% (18/34). Đường kính động mạch phế quản lớn nhất trên DSA lần lượt là 2,73 ± 0,49 mm ở nhóm nhẹ, 2,94 ± 0,52 mm ở nhóm trung bình và 3,72 ± 1,01 mm ở nhóm nặng. Tăng sinh mạch dạng búi/lưới gặp ở 88,9% nhóm nặng và 37,5% nhóm không nặng (OR = 13,33; 95% CI: 2,24 - 79,44; p = 0,003); phình mạch gặp ở 38,9% nhóm nặng và không gặp ở nhóm không nặng (95% CI: 1,12 - 415,37; p = 0,008); shunt động–tĩnh mạch gặp ở 38,9% và 6,2% (OR = 9,55; 95% CI: 1,02 - 89,23; p = 0,043). Động mạch hệ thống ngoài phế quản chưa có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với ho ra máu nặng (OR = 3,00; 95% CI: 0,70 - 12,93; p = 0,172). Thành công kỹ thuật đạt 100,0% và thành công lâm sàng sớm đạt 97,1%. Không ghi nhận nhồi máu tạng trong thời gian nằm viện.


Kết luận: Tăng sinh mạch dạng búi/lưới, phình mạch và shunt động–tĩnh mạch trên DSA có liên quan với ho ra máu nặng trong nhóm bệnh nhân được nút mạch. Nút mạch đạt tỷ lệ thành công kỹ thuật và lâm sàng sớm cao trong nhóm nghiên cứu.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Đào Ngọc Bằng, Bạch Quốc Tuấn, Tạ Bá Thắng. Kết quả gây tắc động mạch phế quản điều trị ho ra máu tại Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Quân y 103 trong 5 năm. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023;525(1A). doi:10.51298/vmj.v525i1A.4932.
2. Nguyễn Trường Giang, Lê Anh Quang, Nguyễn Thị Hà. Điều trị ho ra máu cấp tính bằng nút động mạch phế quản và ngoài phế quản sử dụng phối hợp hai loại vật liệu nút mạch. Điện quang Việt Nam. 2015;(22):49–53.
3. Almeida J, Leal C, Figueiredo L. Evaluation of the bronchial arteries: normal findings, hypertrophy and embolization in patients with hemoptysis. Insights Imaging. 2020;11:70. doi:10.1186/s13244-020-00877-4.
4. Dohna M, Kühl H, Sutharsan S, Dohna-Schwake C, Vo Chieu VD, Hellms S, et al. Bronchial artery diameter in massive hemoptysis in cystic fibrosis. BMC Pulm Med. 2022;22:424. doi:10.1186/s12890-022-02233-2.
5. Kettenbach J, Ittrich H, Gaubert JY, Gebauer B, Vos JA. CIRSE Standards of Practice on Bronchial Artery Embolisation. Cardiovasc Intervent Radiol. 2022;45(6):721–732. doi:10.1007/s00270-022-03127-w.
6. Mazıcan M, Karluka I, Fındıkcıoğlu A, Andıc C. Bronchial artery embolization in patients with life-threatening massive hemoptysis: comparison of the efficacy and safety of particulate embolizing agents and n-2-butyl-cyanoacrylate. Eur Rev Med Pharmacol Sci. 2024;28(1):310–318. doi:10.26355/eurrev_202401_34918.
7. Quigley N, Gagnon S, Fortin M. Aetiology, diagnosis and treatment of moderate-to-severe haemoptysis in a North American academic centre. ERJ Open Res. 2020;6(4):00204-2020. doi:10.1183/23120541.00204-2020.
8. Tao Y, Li J, Su R. The efficacy, safety, and related factors of bronchial artery embolization for hemoptysis: a systematic review and meta-analysis with subgroup analysis. Cardiovasc Diagn Ther. 2024;14(5):859–877. doi:10.21037/cdt-24-157.