NỒNG ĐỘ PAPP-A VÀ PLGF HUYẾT THANH MẸ Ở QUÝ I THAI KỲ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG

Dương Ngọc Hưng1, , Phạm Thị Mai Anh2
1 Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội
2 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả nồng độ PAPP-A và PLGF huyết thanh mẹ ở quý I thai kỳ (11 tuần 0 ngày - 13 tuần 6 ngày) tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 1.297 thai phụ mang thai đơn, tuổi thai 11-13+6 tuần, được xét nghiệm PAPP-A, PLGF huyết thanh và theo dõi đầy đủ kết cục thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng trong giai đoạn 2024-2025. Nồng độ PAPP-A, PLGF (giá trị tuyệt đối và bội số trung vị - MoM hiệu chỉnh theo tuổi thai) được mô tả theo tuổi thai lúc lấy máu, nhóm tuổi mẹ và loại thai (tự nhiên/hỗ trợ sinh sản). Số liệu được xử lý bằng phần mềm Stata 17.0, sử dụng kiểm định Mann-Whitney cho các so sánh giữa nhóm.


Kết quả: Tuổi trung bình thai phụ là 29,5 ± 5,2 tuổi; nhóm tuổi ≥35 chiếm 17,8%. Nồng độ PAPP-A trung bình là 4,18 ± 2,86 mIU/mL (MoM trung vị 0,86; IQR 0,62-1,18); nồng độ PLGF trung bình là 59,64 ± 27,13 pg/mL (MoM trung vị 0,91; IQR 0,72-1,18). Cả hai chỉ số có phân bố lệch phải. Nồng độ tuyệt đối của PAPP-A và PLGF tăng dần theo tuổi thai (PAPP-A: 2,92 → 4,13 → 5,74 mIU/mL; PLGF: 51,22 → 59,49 → 68,42 pg/mL từ tuần 11 đến tuần 13), trong khi giá trị MoM dao động ổn định quanh 1 ở cả ba mốc tuần thai. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về MoM PAPP-A và PLGF giữa nhóm tuổi mẹ <35 và ≥35 (p=0,157 và p=0,665). MoM PAPP-A và PLGF ở nhóm thai hỗ trợ sinh sản (IUI/IVF) có xu hướng cao hơn nhóm thai tự nhiên, tuy nhiên cỡ mẫu nhóm can thiệp còn nhỏ.


Kết luận: Nồng độ PAPP-A và PLGF huyết thanh mẹ trong quý I thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng có xu hướng tăng dần theo tuổi thai, phù hợp với y văn. Giá trị MoM ổn định quanh 1 và không khác biệt theo tuổi mẹ, cho thấy việc hiệu chỉnh MoM theo tuổi thai đang áp dụng phản ánh phù hợp đặc điểm quần thể nghiên cứu, là cơ sở tin cậy cho các phân tích giá trị dự báo kết cục thai kỳ tiếp theo.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Karrar SA, Martingano DJ, Hong PL. Preeclampsia. In: StatPearls. StatPearls Publishing; 2025.
2. Rolnik DL, Wright D, Poon LCY, et al. ASPRE trial: performance of screening for preterm pre-eclampsia. Ultrasound Obstet Gynecol. 2017;50(4):492-495. doi:10.1002/uog.18816
3. Rolnik DL, Nicolaides KH, Poon LC. Prevention of preeclampsia with aspirin. Am J Obstet Gynecol. 2022;226(2S):S1108-S1119. doi:10.1016/j.ajog.2020.08.045
4. Bộ Y tế. Hướng dẫn sàng lọc, chẩn đoán và xử trí tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai, tiền sản giật, sản giật. 2024.
5. Mazer Zumaeta A, Wright A, Syngelaki A, Maritsa VA, Da Silva AB, Nicolaides KH. Screening for pre-eclampsia at 11-13 weeks’ gestation: use of pregnancy-associated plasma protein-A, placental growth factor or both. Ultrasound Obstet Gynecol. 2020;56(3):400-407. doi:10.1002/uog.22093
6. Trương Hữu Cương. Nhận xét kết quả sàng lọc và dự phòng tiền sản giật tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh. Luận văn Bác sỹ Chuyên khoa II, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng; 2025.
7. Lê Thị Mai Dung, Nguyễn Thy Khuê, Lê Thị Thu Ngân, và cộng sự. Giá trị PlGF trong sàng lọc tiền sản giật ở ba tháng đầu thai kỳ. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;553(1). doi:10.51298/vmj.v553i1.15211